HỎI ĐÁP PHÁP LUẬT VỀ LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT TRỢ GIÚP PHÁP LÝ NĂM 2026

Thứ tư - 26/08/2026 03:10 7 0
Luật số 05/2026/QH16 ngày 23/4/2026 - Có hiệu lực từ ngày 01/01/2027

Câu 1. Kinh phí ngân sách nhà nước dành cho công tác trợ giúp pháp lý được bố trí như thế nào?
Căn cứ pháp lý: Khoản 1 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 5 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“2. Kinh phí ngân sách nhà nước được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm của cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, đầu tư công, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, công nghiệp công nghệ số và pháp luật chuyên ngành có liên quan.
Đối với địa phương chưa tự cân đối được ngân sách, ưu tiên bố trí ngân sách từ số bổ sung cân đối ngân sách hằng năm để hỗ trợ cho việc thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý phức tạp, điển hình.”
Như vậy, kinh phí ngân sách nhà nước được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm của cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý theo pháp luật về ngân sách nhà nước, đầu tư công, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, công nghiệp công nghệ số và pháp luật chuyên ngành có liên quan. Đối với địa phương chưa tự cân đối được ngân sách, ưu tiên bố trí ngân sách từ số bổ sung cân đối ngân sách hằng năm để hỗ trợ thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý phức tạp, điển hình.
Câu 3. Những người nào thuộc diện được trợ giúp pháp lý?
Căn cứ pháp lý: Khoản 2 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“Điều 7. Người được trợ giúp pháp lý
1. Người có công với cách mạng; cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi liệt sĩ.
2. Người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ cận nghèo.
3. Người nhiễm chất độc da cam.
4. Người khuyết tật.
5. Trẻ em.
6. Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người dân tộc thiểu số rất ít người.
7. Người được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng là người cao tuổi, người bị bạo lực trong vụ việc bạo lực gia đình, người nhiễm HIV.
8. Người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội, bị hại.
9. Người có khó khăn đột xuất do gặp thiên tai hoặc hỏa hoạn được trợ giúp pháp lý trong vụ việc liên quan trực tiếp đến khắc phục hậu quả xảy ra với họ bởi sự kiện này.
10. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
11. Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người và người dưới 18 tuổi đi cùng theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người.
12. Cá nhân bị thiệt hại mà không thuê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
13. Người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định được trợ giúp pháp lý.
14. Người được trợ giúp pháp lý khác theo quy định của pháp luật.”
Như vậy, người được trợ giúp pháp lý gồm: người có công với cách mạng; cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi liệt sĩ; người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; người nhiễm chất độc da cam; người khuyết tật; trẻ em; người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người dân tộc thiểu số rất ít người; người được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng là người cao tuổi, người bị bạo lực trong vụ việc bạo lực gia đình hoặc người nhiễm HIV; người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội hoặc bị hại; người có khó khăn đột xuất do thiên tai hoặc hỏa hoạn trong vụ việc liên quan trực tiếp đến khắc phục hậu quả; các trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi được Luật liệt kê; nạn nhân, người đang được xác định là nạn nhân mua bán người và người dưới 18 tuổi đi cùng; cá nhân bị thiệt hại thuộc trường hợp quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; người nước ngoài theo điều ước quốc tế; và người khác theo quy định của pháp luật.
Câu 4. Người dân tộc thiểu số nào thuộc diện được trợ giúp pháp lý?
Căn cứ pháp lý: Khoản 2 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“6. Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người dân tộc thiểu số rất ít người.”
Như vậy, người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và người dân tộc thiểu số rất ít người thuộc diện được trợ giúp pháp lý.
Câu 5. Những người đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng nào được trợ giúp pháp lý?
Căn cứ pháp lý: Khoản 2 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 7 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“7. Người được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng là người cao tuổi, người bị bạo lực trong vụ việc bạo lực gia đình, người nhiễm HIV.”
Như vậy, người được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng là người cao tuổi, người bị bạo lực trong vụ việc bạo lực gia đình và người nhiễm HIV thuộc diện được trợ giúp pháp lý.
Câu 6. Người gặp khó khăn đột xuất do thiên tai hoặc hỏa hoạn có được trợ giúp pháp lý hay không?
Căn cứ pháp lý: Khoản 2 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 9 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“9. Người có khó khăn đột xuất do gặp thiên tai hoặc hỏa hoạn được trợ giúp pháp lý trong vụ việc liên quan trực tiếp đến khắc phục hậu quả xảy ra với họ bởi sự kiện này.”
Như vậy, người có khó khăn đột xuất do gặp thiên tai hoặc hỏa hoạn được trợ giúp pháp lý đối với vụ việc liên quan trực tiếp đến việc khắc phục hậu quả xảy ra với họ do sự kiện đó.
Câu 7. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi được trợ giúp pháp lý trong những trường hợp nào?
Căn cứ pháp lý: Khoản 2 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 10 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“10. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên.”
Như vậy, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi được trợ giúp pháp lý khi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng hoặc phạm nhân theo Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Câu 8. Nạn nhân của hành vi mua bán người và người đi cùng có thuộc diện được trợ giúp pháp lý không?
Căn cứ pháp lý: Khoản 2 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 11 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“11. Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người và người dưới 18 tuổi đi cùng theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người.”
Như vậy, nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người và người dưới 18 tuổi đi cùng theo Luật Phòng, chống mua bán người thuộc diện được trợ giúp pháp lý.
Câu 9. Cá nhân bị thiệt hại trong hoạt động công vụ và người nước ngoài được trợ giúp pháp lý trong trường hợp nào?
Căn cứ pháp lý: Khoản 2 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung các khoản 12, 13 và 14 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“12. Cá nhân bị thiệt hại mà không thuê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
13. Người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định được trợ giúp pháp lý.
14. Người được trợ giúp pháp lý khác theo quy định của pháp luật.”
Như vậy, cá nhân bị thiệt hại mà không thuê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được trợ giúp pháp lý. Người nước ngoài được trợ giúp pháp lý khi điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định. Ngoài ra, người được trợ giúp pháp lý khác còn có thể được xác định theo quy định của pháp luật.
Câu 10. Trợ giúp viên pháp lý phải đáp ứng những tiêu chuẩn nào?
Căn cứ pháp lý: Khoản 4 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung Điều 19 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“Điều 19. Tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý Công dân Việt Nam là viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có đủ tiêu chuẩn sau đây có thể trở thành trợ giúp viên pháp lý:
1. Có phẩm chất đạo đức tốt;
2. Có trình độ cử nhân luật trở lên;
3. Đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư;
4. Đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý, trừ trường hợp đã từng là trợ giúp viên pháp lý;
5. Có sức khỏe bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý.”
Như vậy, công dân Việt Nam là viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có thể trở thành trợ giúp viên pháp lý khi có phẩm chất đạo đức tốt; có trình độ cử nhân luật trở lên; đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý, trừ người đã từng là trợ giúp viên pháp lý; và có sức khỏe bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý.
Câu 11. Những trường hợp nào không được bổ nhiệm và cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý?
Căn cứ pháp lý: Khoản 5 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 21 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét bổ nhiệm và cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý cho người đủ tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý quy định tại Điều 19 của Luật này mà không thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đang trong thời hạn bị xử lý kỷ luật; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc;
b) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng do cố ý, tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, kể cả đối với trường hợp đã được xóa án tích; đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý.”

Như vậy, người đủ tiêu chuẩn vẫn không được bổ nhiệm, cấp thẻ nếu đang trong thời hạn bị xử lý kỷ luật; đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc; đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; hoặc thuộc các trường hợp đã bị kết án được quy định cụ thể tại điểm b khoản 1 Điều 21, bao gồm một số trường hợp kể cả đã được xóa án tích hoặc chưa được xóa án tích.
Câu 12. Người đã bị miễn nhiệm có thể được bổ nhiệm lại và thẻ trợ giúp viên pháp lý được cấp lại khi nào?
Căn cứ pháp lý: Khoản 5 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 21 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét bổ nhiệm và cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý cho người đã bị miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý thuộc trường hợp quy định tại điểm a, đ hoặc g khoản 1 Điều 22 của Luật này khi đáp ứng đủ tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý quy định tại Điều 19 của Luật này và lý do miễn nhiệm, thu hồi thẻ không còn.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp lại thẻ trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp thẻ bị mất, bị hư hỏng.”
Như vậy, chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét bổ nhiệm và cấp thẻ cho người đã bị miễn nhiệm, thu hồi thẻ theo điểm a, đ hoặc g khoản 1 Điều 22 khi người đó đáp ứng đủ tiêu chuẩn và lý do miễn nhiệm, thu hồi thẻ không còn. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp lại thẻ trợ giúp viên pháp lý khi thẻ bị mất hoặc bị hư hỏng.
Câu 13. Trợ giúp viên pháp lý bị miễn nhiệm và thu hồi thẻ trong những trường hợp nào?
Căn cứ pháp lý: Khoản 6 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 22 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“1. Trợ giúp viên pháp lý bị miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không còn đủ tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý quy định tại Điều 19 của Luật này;
b) Không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng trong thời gian 12 tháng liên tục, trừ trường hợp do nguyên nhân khách quan;
c) Bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc;
d) Bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo trở lên do thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật này;
đ) Đang trong thời gian bị cấm hành nghề trợ giúp pháp lý theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
e) Bị kết án mà bản án đã có hiệu lực pháp luật;
g) Bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc.”
Như vậy, trợ giúp viên pháp lý bị miễn nhiệm, thu hồi thẻ khi: không còn đủ tiêu chuẩn; không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng trong 12 tháng liên tục mà không có nguyên nhân khách quan; bị kỷ luật buộc thôi việc; bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên do thực hiện hành vi bị nghiêm cấm; đang bị cấm hành nghề trợ giúp pháp lý; bị kết án bằng bản án có hiệu lực; hoặc bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.
Câu 14. Trường hợp nào trợ giúp viên pháp lý đương nhiên được miễn nhiệm và thẻ đương nhiên không còn giá trị?
Căn cứ pháp lý: Khoản 6 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 22 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“2. Trợ giúp viên pháp lý đương nhiên miễn nhiệm và thẻ trợ giúp viên pháp lý đương nhiên không còn giá trị trong các trường hợp sau đây:
a) Chuyển công tác khác; thôi việc hoặc cho thôi việc;
b) Nghỉ hưu.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý.”
Như vậy, trợ giúp viên pháp lý đương nhiên được miễn nhiệm và thẻ đương nhiên không còn giá trị khi chuyển công tác khác, thôi việc, được cho thôi việc hoặc nghỉ hưu. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý.
Câu 15. Những người đã nghỉ hưu hoặc thôi việc nào có thể trở thành cộng tác viên trợ giúp pháp lý?
Căn cứ pháp lý: Khoản 7 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 24 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“a) Người đã nghỉ hưu hoặc thôi việc theo nguyện vọng hoặc thôi việc vì lý do khách quan, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, phẩm chất đạo đức tốt, đủ sức khỏe và có nguyện vọng thực hiện trợ giúp pháp lý, bao gồm người đã từng là: trợ giúp viên pháp lý, Thẩm phán, Thẩm tra viên ngành Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên ngành Kiểm sát, Điều tra viên, Chấp hành viên, Thẩm tra viên thi hành án dân sự, người giữ hạng, ngạch chuyên viên chính và tương đương trở lên làm công tác pháp luật; người giữ hạng, ngạch chuyên viên và tương đương có thời gian làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên tại cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; người đã từng là cộng tác viên trợ giúp pháp lý;”
Như vậy, người đã nghỉ hưu hoặc thôi việc theo nguyện vọng hay vì lý do khách quan, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, phẩm chất đạo đức tốt, đủ sức khỏe và có nguyện vọng thực hiện trợ giúp pháp lý có thể trở thành cộng tác viên nếu trước đó giữ một trong các chức danh hoặc vị trí pháp luật quy định.
Câu 16. Viên chức đang công tác có thể trở thành cộng tác viên trợ giúp pháp lý hay không?
Căn cứ pháp lý: Khoản 7 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 1 Điều 24 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“b) Viên chức giữ hạng III và tương đương làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên hoặc viên chức giữ hạng I, hạng II và tương đương làm công tác pháp luật và được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan nơi làm việc.”
Như vậy, viên chức đang công tác có thể trở thành cộng tác viên trợ giúp pháp lý. Viên chức giữ hạng III và tương đương làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên hoặc viên chức giữ hạng I, hạng II và tương đương làm công tác pháp luật có thể trở thành cộng tác viên trợ giúp pháp lý nếu được cơ quan nơi làm việc đồng ý bằng văn bản.
Câu 17. Ai có thẩm quyền cấp thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý và trường hợp nào không được cấp thẻ?
Căn cứ pháp lý: Khoản 7 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 24 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“2. Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, cấp thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý cho người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này và không thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng do cố ý, tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, kể cả đối với trường hợp đã được xóa án tích; đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý;
b) Đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc; đang trong thời hạn bị xử lý kỷ luật.”
Như vậy, Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, cấp thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý cho người đủ tiêu chuẩn, điều kiện. Thẻ không được cấp cho người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; thuộc các trường hợp đã bị kết án được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 24; đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc; hoặc đang trong thời hạn bị xử lý kỷ luật.
Câu 18. Cộng tác viên trợ giúp pháp lý thực hiện công việc theo cơ chế nào?
Căn cứ pháp lý: Khoản 7 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 24 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“3. Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước ký kết hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với người được cấp thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý để thực hiện tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng tại địa phương.”
Như vậy, Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với người được cấp thẻ cộng tác viên để thực hiện tư vấn pháp luật và đại diện ngoài tố tụng tại địa phương.
Câu 19. Cộng tác viên trợ giúp pháp lý bị thu hồi thẻ trong những trường hợp nào?
Căn cứ pháp lý: Khoản 7 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 4 và khoản 5 Điều 24 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“4. Cộng tác viên trợ giúp pháp lý bị thu hồi thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không còn đủ tiêu chuẩn, điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Không thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý trong thời gian 02 năm liên tục, trừ trường hợp do nguyên nhân khách quan;
c) Thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật này hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý nhưng chưa đến mức bị thu hồi thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý mà tiếp tục có hành vi vi phạm;
d) Hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý bị chấm dứt hoặc cộng tác viên trợ giúp pháp lý không ký kết hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị ký kết hợp đồng của Trung tâm mà không có lý do chính đáng;
đ) Cộng tác viên trợ giúp pháp lý là viên chức bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc;
e) Bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc;
g) Bị kết án mà bản án đã có hiệu lực pháp luật.
5. Giám đốc Sở Tư pháp quyết định thu hồi thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý; cấp lại thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý trong trường hợp thẻ bị mất, bị hư hỏng.”
Như vậy, cộng tác viên bị thu hồi thẻ khi không còn đủ tiêu chuẩn, điều kiện; không thực hiện vụ việc trong 02 năm liên tục mà không có nguyên nhân khách quan; vi phạm quy định cấm hoặc tái phạm hành chính trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý; hợp đồng bị chấm dứt hoặc không ký hợp đồng trong 30 ngày từ khi nhận đề nghị mà không có lý do chính đáng; là viên chức bị kỷ luật buộc thôi việc; bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc; hoặc bị kết án bằng bản án có hiệu lực.
Câu 20. Yêu cầu trợ giúp pháp lý được thụ lý khi đáp ứng điều kiện nào?
Căn cứ pháp lý: Khoản 9 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 30 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“1. Khi yêu cầu trợ giúp pháp lý, người yêu cầu phải nộp hồ sơ cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.
2. Yêu cầu trợ giúp pháp lý chỉ được thụ lý khi có vụ việc cụ thể liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý và phù hợp với quy định của Luật này.”
Như vậy, khi yêu cầu trợ giúp pháp lý, người yêu cầu phải nộp hồ sơ cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý. Yêu cầu chỉ được thụ lý khi có vụ việc cụ thể liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý và phù hợp với Luật Trợ giúp pháp lý.
Câu 21. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý phải từ chối thụ lý trong những trường hợp nào?
Căn cứ pháp lý: Khoản 9 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 30 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“3. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý phải từ chối thụ lý và thông báo rõ lý do bằng văn bản cho người yêu cầu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Yêu cầu trợ giúp pháp lý không đáp ứng quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Yêu cầu trợ giúp pháp lý có nội dung trái pháp luật;

c) Người được trợ giúp pháp lý đã chết;
d) Vụ việc đang được một tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khác thụ lý, giải quyết;
đ) Yêu cầu trợ giúp pháp lý đã được giải quyết và không phát sinh nội dung mới.”

Như vậy, tổ chức phải từ chối thụ lý và thông báo rõ lý do bằng văn bản nếu: yêu cầu không đáp ứng điều kiện thụ lý; nội dung yêu cầu trái pháp luật; người được trợ giúp pháp lý đã chết; vụ việc đang được tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khác thụ lý, giải quyết; hoặc yêu cầu đã được giải quyết và không phát sinh nội dung mới.
Câu 22. Trường hợp chưa đủ hồ sơ nhưng vụ việc cấp bách có được thụ lý ngay không?
Căn cứ pháp lý: Khoản 9 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 30 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“4. Trường hợp người yêu cầu chưa thể cung cấp đầy đủ hồ sơ nhưng cần thực hiện trợ giúp pháp lý ngay do vụ việc sắp hết thời hiệu khởi kiện, sắp đến ngày xét xử, vụ việc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng chuyển yêu cầu trợ giúp pháp lý cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc để tránh gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý thì người tiếp nhận yêu cầu báo cáo người đứng đầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và thụ lý ngay, đồng thời hướng dẫn người yêu cầu trợ giúp pháp lý bổ sung các giấy tờ, tài liệu cần thiết.”
Như vậy, trường hợp chưa đủ hồ sơ nhưng vụ việc cấp bách có được thụ lý. Vụ việc được thụ lý ngay khi người yêu cầu chưa thể cung cấp đủ hồ sơ nhưng cần trợ giúp pháp lý ngay vì sắp hết thời hiệu khởi kiện, sắp đến ngày xét xử, vụ việc được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến, hoặc cần tránh thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý. Người tiếp nhận phải báo cáo người đứng đầu tổ chức, thụ lý ngay và hướng dẫn người yêu cầu bổ sung giấy tờ, tài liệu cần thiết.
Câu 23. Tư vấn pháp luật trong hoạt động trợ giúp pháp lý được thực hiện bằng những cách nào?
Căn cứ pháp lý: Khoản 10 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung Điều 32 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“Điều 32. Tư vấn pháp luật
1. Người thực hiện trợ giúp pháp lý tư vấn pháp luật cho người được trợ giúp pháp lý bằng việc hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến tranh chấp, khiếu nại, vướng mắc pháp luật; hướng dẫn giúp các bên hòa giải, thương lượng, thống nhất hướng giải quyết vụ việc.
2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết Điều này; quy định trình tự, thủ tục thực hiện vụ việc tư vấn pháp luật.”
Như vậy, người thực hiện trợ giúp pháp lý tư vấn bằng việc hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến tranh chấp, khiếu nại, vướng mắc pháp luật; đồng thời hướng dẫn, giúp các bên hòa giải, thương lượng và thống nhất hướng giải quyết vụ việc.
Câu 24. Ai được đại diện ngoài tố tụng và việc phối hợp xác minh, chuyển vụ việc được thực hiện như thế nào?
Căn cứ pháp lý: Khoản 11, khoản 12 và khoản 13 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung các Điều 33, 34 và 35 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“Điều 33. Đại diện ngoài tố tụng
1. Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý, cộng tác viên trợ giúp pháp lý đại diện ngoài tố tụng cho người được trợ giúp pháp lý trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết Điều này; quy định trình tự, thủ tục thực hiện vụ việc đại diện ngoài tố tụng.
Điều 34. Phối hợp xác minh vụ việc trợ giúp pháp lý
1. Trường hợp cần xác minh các tình tiết, sự kiện có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý ở địa phương khác thì tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý đã thụ lý vụ việc yêu cầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý nơi cần xác minh phối hợp thực hiện. Yêu cầu xác minh phải bằng văn bản, nêu rõ nội dung cần xác minh và thời hạn trả lời.
2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết Điều này; quy định trình tự, thủ tục phối hợp xác minh vụ việc trợ giúp pháp lý.
Điều 35. Chuyển yêu cầu, vụ việc trợ giúp pháp lý
1. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước đang giải quyết vụ việc trợ giúp pháp lý có thể chuyển vụ việc đó cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước ở địa phương khác khi vụ việc trợ giúp pháp lý đã được chuyển cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng tại địa phương đó giải quyết và thông báo cho người được trợ giúp pháp lý biết.”
Như vậy, Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý và cộng tác viên trợ giúp pháp lý được đại diện ngoài tố tụng cho người được trợ giúp pháp lý trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi cần xác minh tại địa phương khác, tổ chức đã thụ lý gửi yêu cầu bằng văn bản cho tổ chức nơi cần xác minh, nêu rõ nội dung và thời hạn trả lời.
Câu 25. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có quyền kiến nghị như thế nào và hồ sơ vụ việc được lập ra sao?
Căn cứ pháp lý: Khoản 14 và khoản 15 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung Điều 36 và Điều 38 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:
“Điều 36. Kiến nghị trong hoạt động trợ giúp pháp lý
1. Trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý kiến nghị bằng văn bản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ việc trợ giúp pháp lý. Cơ quan nhận được kiến nghị, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm trả lời bằng văn bản theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp cơ quan nhận được kiến nghị không trả lời theo quy định tại khoản 1 Điều này thì tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có quyền kiến nghị cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan đó xem xét, giải quyết.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định trình tự, thủ tục kiến nghị trong hoạt động trợ giúp pháp lý.
Điều 38. Hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý
Khi thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm lập hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.”
Như vậy, trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức có quyền kiến nghị bằng văn bản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về vấn đề liên quan đến giải quyết vụ việc. Cơ quan nhận phải trả lời bằng văn bản; nếu không trả lời, tổ chức có quyền kiến nghị cơ quan cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết. Tổ chức và người thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm lập hồ sơ vụ việc theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
 

Tác giả bài viết: CTV

 Tags: hiệu lực

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây