Việc sửa đổi Luật Công chứng lần này có nhiều nội dung đáng chú ý, liên quan trực tiếp đến người dân, tổ chức hành nghề công chứng và công chứng viên; đồng thời tăng cường khai thác, sử dụng dữ liệu, đẩy mạnh chuyển đổi số và tạo thuận lợi trong thực hiện thủ tục công chứng.
Làm rõ khái niệm công chứng, công chứng viên và giao dịch phải công chứng
Khoản 1 và khoản 2 Điều 1 Luật số 04/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 2 Điều 2 và Điều 3 Luật Công chứng quy định:“Theo đó, công chứng là dịch vụ công do công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện; công chứng viên do Chủ tịch UBND cấp tỉnh bổ nhiệm; giao dịch phải công chứng là giao dịch quan trọng, đòi hỏi điều kiện tham gia chặt chẽ, mức độ an toàn pháp lý cao và được luật quy định phải công chứng. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan rà soát, cập nhật và đăng tải danh mục giao dịch phải công chứng, chứng thực trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.”
Theo quy định mới, công chứng là dịch vụ công do công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện để chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của giao dịch bằng văn bản phải công chứng hoặc giao dịch mà cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.
Công chứng viên là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật, được Chủ tịch UBND cấp tỉnh bổ nhiệm để hành nghề công chứng và thực hiện một số nhiệm vụ chứng thực theo quy định của pháp luật.
Luật cũng xác định giao dịch phải công chứng là giao dịch quan trọng, đòi hỏi điều kiện tham gia giao dịch chặt chẽ, mức độ an toàn pháp lý cao và được luật quy định phải công chứng. Bộ Tư pháp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan rà soát, cập nhật và đăng tải danh mục các giao dịch phải công chứng, chứng thực trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.
Chuyển giao thẩm quyền chứng thực giao dịch tại địa bàn đủ điều kiện
Khoản 7 Điều 1 Luật số 04/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung Điều 19 Luật Công chứng quy định: “Quy định giao UBND cấp tỉnh ban hành Đề án quản lý, phát triển các tổ chức hành nghề công chứng; đồng thời xem xét, quyết định chuyển giao thẩm quyền chứng thực giao dịch của Chủ tịch UBND cấp xã cho tổ chức hành nghề công chứng tại địa bàn cấp xã đã phát triển được tổ chức hành nghề công chứng đáp ứng yêu cầu của cá nhân, tổ chức, theo quy định của Chính phủ.”
Một điểm mới đáng chú ý là UBND cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành Đề án quản lý, phát triển các tổ chức hành nghề công chứng phù hợp với quy định của pháp luật và tình hình thực tiễn tại địa phương.
UBND cấp tỉnh được xem xét, quyết định chuyển giao thẩm quyền chứng thực giao dịch của Chủ tịch UBND cấp xã cho tổ chức hành nghề công chứng để thực hiện công chứng giao dịch tại những địa bàn cấp xã đã phát triển được tổ chức hành nghề công chứng đáp ứng yêu cầu công chứng của cá nhân, tổ chức theo quy định của Chính phủ.
Bổ sung mô hình Văn phòng công chứng theo loại hình doanh nghiệp tư nhân
Khoản 8 Điều 1 Luật số 04/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 23 Luật Công chứng quy định:“Văn phòng công chứng về nguyên tắc tổ chức, hoạt động theo loại hình công ty hợp danh; tại đơn vị hành chính cấp xã có mật độ dân số thấp, cơ sở hạ tầng, dịch vụ chưa phát triển và khó khăn trong việc thành lập theo loại hình công ty hợp danh thì được thành lập theo loại hình doanh nghiệp tư nhân. UBND cấp tỉnh quyết định danh mục đơn vị hành chính cấp xã được áp dụng mô hình này.”
Luật quy định Văn phòng công chứng về nguyên tắc được tổ chức, hoạt động theo loại hình công ty hợp danh. Tuy nhiên, tại các đơn vị hành chính cấp xã có mật độ dân số thấp, cơ sở hạ tầng, dịch vụ chưa phát triển và khó khăn trong việc thành lập Văn phòng công chứng theo loại hình công ty hợp danh thì được thành lập Văn phòng công chứng theo loại hình doanh nghiệp tư nhân.
UBND cấp tỉnh quyết định danh mục đơn vị hành chính cấp xã được thành lập Văn phòng công chứng theo loại hình doanh nghiệp tư nhân tại địa phương.
Quy định cụ thể hơn về thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng
Khoản 10 Điều 1 Luật số 04/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 26 Luật Công chứng quy định:“Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thay đổi một trong các nội dung đăng ký hoạt động, Văn phòng công chứng phải đăng ký nội dung thay đổi tại Sở Tư pháp nơi đã đăng ký hoạt động. Việc thay đổi địa chỉ trụ sở phải phù hợp với Đề án quản lý, phát triển các tổ chức hành nghề công chứng của địa phương; thay đổi tên, địa chỉ trụ sở hoặc Trưởng Văn phòng công chứng thì Sở Tư pháp cấp lại giấy đăng ký hoạt động.”
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thay đổi một trong các nội dung đăng ký hoạt động theo quy định, Văn phòng công chứng phải đăng ký nội dung thay đổi tại Sở Tư pháp nơi đã đăng ký hoạt động.
Đáng chú ý, việc thay đổi địa chỉ trụ sở Văn phòng công chứng phải phù hợp với Đề án quản lý, phát triển các tổ chức hành nghề công chứng của địa phương. Khi thay đổi tên, địa chỉ trụ sở hoặc Trưởng Văn phòng công chứng thì Sở Tư pháp cấp lại giấy đăng ký hoạt động; đối với các nội dung đăng ký hoạt động khác, Sở Tư pháp cấp lại giấy đăng ký hoạt động hoặc ghi nhận nội dung thay đổi vào giấy đăng ký hoạt động.
Tạo thuận lợi cho người dân khi nộp hồ sơ yêu cầu công chứng
Khoản 11 Điều 1 Luật số 04/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 7 và bổ sung khoản 7a Điều 42 Luật Công chứng quy định:“Người yêu cầu công chứng nộp 01 bộ hồ sơ bằng hình thức trực tuyến, trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính. Các giấy tờ tại điểm b, c và d khoản 1 Điều 42 có thể là bản sao giấy, bản sao điện tử hoặc bản chính điện tử. Nếu thông tin thuộc thành phần hồ sơ đã có trong cơ sở dữ liệu được cơ quan chủ quản công bố thì người yêu cầu công chứng không phải cung cấp lại giấy tờ chứa thông tin đó; chỉ được yêu cầu bổ sung khi không khai thác được thông tin trong thời hạn giải quyết hoặc thông tin không đầy đủ, không chính xác.”
Luật quy định người yêu cầu công chứng có thể nộp 01 bộ hồ sơ yêu cầu công chứng theo ba phương thức: trực tuyến, trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính đến tổ chức hành nghề công chứng. Giấy tờ tùy thân, giấy tờ về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản và các giấy tờ khác có liên quan đến giao dịch theo quy định có thể là bản sao giấy, bản sao điện tử hoặc bản chính điện tử.
Đặc biệt, khi thông tin trong thành phần hồ sơ đã có trong cơ sở dữ liệu được cơ quan chủ quản công bố, người yêu cầu công chứng không phải cung cấp giấy tờ có chứa thông tin đó mà có thể khai thác dữ liệu để cung cấp cho công chứng viên hoặc đề nghị công chứng viên khai thác dữ liệu theo quy định. Công chứng viên chỉ được yêu cầu bổ sung giấy tờ khi không khai thác được thông tin trong thời hạn giải quyết hoặc thông tin khai thác không đầy đủ, không chính xác.
Quy định này là cơ sở quan trọng để giảm giấy tờ trong thủ tục công chứng và thúc đẩy việc khai thác, sử dụng dữ liệu điện tử.
Sửa đổi thẩm quyền công chứng giao dịch có đối tượng là bất động sản
Khoản 13 Điều 1 Luật số 04/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung Điều 44 Luật Công chứng quy định:“Công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng chỉ được công chứng giao dịch có đối tượng là bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở, trừ các trường hợp luật quy định ngoại lệ. Chính phủ quy định lộ trình thực hiện thẩm quyền công chứng các giao dịch này trong phạm vi toàn quốc sau khi cơ sở dữ liệu công chứng được vận hành và dữ liệu liên quan đã được công bố.”
Theo Điều 44 được sửa đổi, công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng chỉ được công chứng giao dịch có đối tượng là bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở.
Quy định này có một số ngoại lệ, gồm công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản, văn bản ủy quyền liên quan đến việc thực hiện các quyền về bất động sản và việc sửa đổi, bổ sung, chấm dứt, hủy bỏ các giao dịch này.
Đồng thời, Chính phủ quy định lộ trình thực hiện thẩm quyền công chứng giao dịch có đối tượng là bất động sản trong phạm vi toàn quốc sau khi cơ sở dữ liệu công chứng được vận hành và thông tin trong các cơ sở dữ liệu có liên quan đã được cơ quan chủ quản công bố theo quy định của pháp luật.
Thuận lợi hơn khi công chứng hợp đồng ủy quyền tại hai tổ chức hành nghề công chứng khác nhau
Khoản 15 Điều 1 Luật số 04/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung Điều 57 Luật Công chứng quy định:“Trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng, mỗi bên được lựa chọn tổ chức hành nghề công chứng phù hợp để lần lượt chứng nhận việc đề nghị và chấp nhận ủy quyền trên bản gốc hợp đồng. Văn bản có hiệu lực khi công chứng viên của các tổ chức được yêu cầu ký và các tổ chức hành nghề công chứng đó đóng dấu; với văn bản công chứng điện tử phải có chữ ký số của công chứng viên và chữ ký số của các tổ chức hành nghề công chứng. Luật cũng quy định thời hạn 05 ngày làm việc để thông báo, gửi bản sao hoặc thông báo việc sửa lỗi kỹ thuật trong các trường hợp tương ứng.”
Trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng, bên ủy quyền được lựa chọn tổ chức hành nghề công chứng để chứng nhận việc đề nghị ủy quyền; bên được ủy quyền cũng được lựa chọn tổ chức hành nghề công chứng để chứng nhận tiếp vào bản gốc hợp đồng nhằm xác nhận việc chấp nhận ủy quyền và hoàn thành việc công chứng.
Văn bản công chứng hợp đồng ủy quyền có hiệu lực kể từ thời điểm được công chứng viên của các tổ chức hành nghề công chứng mà bên ủy quyền và bên được ủy quyền yêu cầu công chứng ký và được các tổ chức hành nghề công chứng đó đóng dấu. Đối với văn bản công chứng điện tử, văn bản phải có chữ ký số của công chứng viên và chữ ký số của các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện việc công chứng.
Luật cũng quy định cụ thể việc sửa đổi, bổ sung, thỏa thuận chấm dứt hợp đồng ủy quyền và trách nhiệm thông báo, gửi bản sao văn bản cho tổ chức hành nghề công chứng còn lại trong một số trường hợp.
Quy định chặt chẽ việc cung cấp bản gốc văn bản công chứng
Khoản 17 Điều 1 Luật số 04/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 68 Luật Công chứng quy định:“Khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu bằng văn bản để phục vụ giám sát, kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án, tổ chức hành nghề công chứng cung cấp bản sao văn bản công chứng và giấy tờ có liên quan. Bản gốc chỉ được cung cấp khi cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu để xác minh, giám định tài liệu; thời hạn cung cấp tối đa 10 ngày làm việc kể từ ngày bàn giao và việc bàn giao phải được lập thành văn bản.”
Khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu bằng văn bản để phục vụ giám sát, kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án liên quan đến việc đã công chứng, tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm cung cấp bản sao văn bản công chứng và giấy tờ có liên quan.
Trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu cung cấp bản gốc văn bản công chứng để phục vụ việc xác minh, giám định tài liệu thì bản gốc được cung cấp trong thời hạn tối đa 10 ngày làm việc kể từ ngày bàn giao. Việc bàn giao phải được lập thành văn bản; cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm bảo quản và hoàn trả đầy đủ, nguyên vẹn, đúng thời hạn cho tổ chức hành nghề công chứng.
Có thể thấy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng năm 2026 tập trung hoàn thiện tổ chức và hoạt động công chứng, phân định thẩm quyền phù hợp với mô hình chính quyền địa phương, đơn giản hóa thành phần hồ sơ trên cơ sở khai thác dữ liệu, thúc đẩy chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng đồng bộ, thống nhất trong phạm vi cả nước. Những quy định mới tạo cơ sở nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường an toàn pháp lý của giao dịch và tạo thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức khi thực hiện thủ tục công chứng.