Tình huống 1:
Do ảnh hưởng của mưa lớn kéo dài, trên địa bàn xã M xuất hiện nguy cơ sạt lở đất nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của người dân. Sau khi tình trạng khẩn cấp được công bố tại khu vực có nguy cơ cao, cơ quan có thẩm quyền đã yêu cầu các hộ dân trong vùng nguy hiểm khẩn trương sơ tán đến nơi an toàn.
Gia đình ông K thuộc diện phải sơ tán. Tuy nhiên, ông K không chấp hành yêu cầu của lực lượng chức năng, khóa cổng, không cho lực lượng làm nhiệm vụ vào hỗ trợ di chuyển người và tài sản thiết yếu. Mặc dù đã được giải thích nhiều lần về nguy cơ sạt lở, ông K vẫn phản đối và cho rằng gia đình mình có quyền ở lại nhà, không phải thực hiện yêu cầu sơ tán.
Hỏi: Hành vi của ông K có vi phạm quy định của pháp luật không?
Trả lời:
Hành vi của ông K là hành vi không chấp hành yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền trong tình trạng khẩn cấp.
Theo khoản 1 Điều 5 Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, quy định nghiêm cấm hành vi:
“1. Chống đối, cản trở, không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ chỉ đạo, chỉ huy, điều hành, yêu cầu của cơ quan hoặc người có thẩm quyền trong tình trạng khẩn cấp”.
Trong tình huống trên, sau khi tình trạng khẩn cấp được công bố, cơ quan có thẩm quyền đã yêu cầu các hộ dân trong khu vực nguy hiểm sơ tán để bảo đảm an toàn. Tuy nhiên, ông K không chấp hành yêu cầu sơ tán, khóa cổng, cản trở lực lượng chức năng thực hiện nhiệm vụ và có lời nói phản đối yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Do đó, hành vi của ông K thuộc trường hợp bị nghiêm cấm theo khoản 1 Điều 5 Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025. Tùy tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, ông K có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tình huống 2:
Tại xã B bùng phát dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, số ca mắc tăng nhanh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng của người dân. Sau khi khu vực này được đặt trong tình trạng khẩn cấp khi có thảm họa, nhu cầu mua khẩu trang, dung dịch sát khuẩn và thuốc hạ sốt của người dân tăng cao.
Lợi dụng tình hình đó, ông T là chủ một cửa hàng thuốc đã tự ý nâng giá khẩu trang, dung dịch sát khuẩn lên gấp nhiều lần so với ngày thường. Ngoài ra, ông T còn quảng cáo một số loại thuốc thông thường là “thuốc đặc trị”, buộc người dân mua với giá cao để thu lợi.
Hỏi: Hành vi của ông T có vi phạm quy định của pháp luật không?
Trả lời:
Hành vi của ông T là hành vi lợi dụng tình trạng khẩn cấp để trục lợi, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Khoản 2 Điều 5 Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 quy định nghiêm cấm hành vi:
“2. Lợi dụng tình trạng khẩn cấp để trục lợi, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.
Trong tình huống trên, ông T đã lợi dụng tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh, nhu cầu mua hàng thiết yếu của người dân tăng cao để nâng giá bất hợp lý và bán hàng nhằm thu lợi. Do đó, hành vi của ông T thuộc trường hợp bị nghiêm cấm theo khoản 2 Điều 5 Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025.
Tình huống 3:
Tại xã L xảy ra động đất mạnh làm sập một số nhà ở, trường học và công trình công cộng. Sau khi khu vực này được đặt trong tình trạng khẩn cấp khi có thảm họa, lực lượng chức năng được huy động để tìm kiếm, cứu nạn, cấp phát lều bạt, nước uống và nhu yếu phẩm cho người dân.
Ông K là cán bộ được giao nhiệm vụ quản lý, phân phối lều bạt và máy phát điện phục vụ người dân tại khu sơ tán. Tuy nhiên, ông K đã tự ý chuyển một số lều bạt, máy phát điện cho cơ sở kinh doanh của người quen sử dụng trước, trong khi nhiều hộ dân bị mất nhà vẫn chưa được bố trí chỗ ở tạm. Việc làm của ông K khiến công tác cứu trợ bị chậm, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân vùng thảm họa.
Hỏi: Hành vi của ông K có vi phạm quy định của pháp luật không?
Trả lời:
Hành vi của ông K là hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong tình trạng khẩn cấp, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Khoản 3 Điều 5 Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, quy định nghiêm cấm hành vi:
“3. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn hoặc thiếu trách nhiệm trong tình trạng khẩn cấp gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.
Trong tình huống trên, ông K được giao quản lý, phân phối vật tư cứu trợ nhưng đã tự ý ưu tiên cho người quen sử dụng, không đúng mục đích cứu trợ khẩn cấp. Hành vi này làm ảnh hưởng đến công tác ứng phó thảm họa và quyền lợi của người dân đang cần hỗ trợ. Do đó, hành vi của ông K thuộc trường hợp bị nghiêm cấm theo khoản 3 Điều 5 Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025.
Tình huống 4:
Tại khu công nghiệp X xảy ra sự cố rò rỉ hóa chất độc, có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng người dân khu vực lân cận. Sau khi khu vực này được đặt trong tình trạng khẩn cấp khi có thảm họa, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu các hộ dân trong vùng nguy hiểm di dời đến nơi an toàn.
Tuy nhiên, gia đình bà T không chấp hành, cho rằng sự cố xảy ra trong khu công nghiệp nên chưa ảnh hưởng đến gia đình mình. Mặc dù đã được lực lượng chức năng giải thích, vận động, bà T vẫn kiên quyết không di dời.
Hỏi: Cơ quan có thẩm quyền có được cưỡng chế di dời gia đình bà T đến nơi an toàn không?
Trả lời:
Việc cưỡng chế di dời gia đình bà T là phù hợp với quy định của pháp luật.
Khoản 3 Điều 13 Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 quy định một trong các biện pháp được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp khi có thảm họa là:
“3. Di dời, cưỡng chế di dời người dân trong các khu vực nguy hiểm đến nơi an toàn”.
Trong tình huống trên, gia đình bà T đang ở trong khu vực có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi sự cố rò rỉ hóa chất độc nhưng không tự nguyện di dời. Do đó, cơ quan có thẩm quyền được áp dụng biện pháp cưỡng chế di dời gia đình bà T đến nơi an toàn theo khoản 3 Điều 13 Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025.
Tình huống 5:
Tại xã A xảy ra sự cố vỡ hồ chứa nước, làm nước lũ đổ về nhanh, cuốn trôi đường giao thông và đe dọa an toàn của người dân. Sau khi khu vực này được đặt trong tình trạng khẩn cấp khi có thảm họa, lực lượng chức năng lập trạm canh gác, kiểm soát để ngăn người và phương tiện đi vào vùng nguy hiểm.
Tuy nhiên, ông M điều khiển xe ô tô cố tình vượt qua trạm kiểm soát để vào khu vực bị phong tỏa lấy tài sản. Khi lực lượng chức năng yêu cầu dừng xe, ông M không chấp hành mà tiếp tục điều khiển phương tiện vượt chốt. Trước tình huống này, lực lượng chức năng đã sử dụng rào chắn, xe chuyên dụng để chặn phương tiện; đồng thời sử dụng công cụ hỗ trợ để khống chế, buộc ông M dừng xe, giữ người và phương tiện nhằm bảo đảm an toàn.
Hỏi: Lực lượng chức năng có được sử dụng vũ lực, vũ khí, công cụ hỗ trợ để ngăn chặn, giữ người và phương tiện của ông M không?
Trả lời:
Khoản 8 Điều 13 Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 quy định một trong các biện pháp được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp khi có thảm họa là:
“8. Sử dụng vũ lực, vũ khí, công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật để ngăn chặn, giữ người và phương tiện giao thông cố tình vượt trái phép trạm canh gác và kiểm soát hoặc chống lại việc canh gác, kiểm soát”.
Trong tình huống trên, ông M cố tình điều khiển xe ô tô vượt trái phép trạm canh gác, kiểm soát tại khu vực đang được đặt trong tình trạng khẩn cấp. Do đó, lực lượng chức năng có căn cứ áp dụng biện pháp cần thiết để ngăn chặn, giữ người và phương tiện theo khoản 8 Điều 13 Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025.
Tình huống 6:
Công ty TNHH Minh Thành ký hợp đồng xuất khẩu một lô thiết bị thông tin liên lạc chuyên dụng và linh kiện máy bay không người lái sang nước ngoài. Tuy nhiên, tại thời điểm làm thủ tục xuất khẩu, địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng do có nguy cơ trực tiếp bị xâm lược.
Cơ quan có thẩm quyền thông báo tạm dừng, không cho xuất khẩu lô hàng trên vì đây là mặt hàng có liên quan đến quốc phòng. Đại diện công ty cho rằng hàng hóa đã có hợp đồng mua bán, nếu không xuất khẩu sẽ bị thiệt hại kinh tế.
Hỏi: Việc cơ quan có thẩm quyền cấm xuất khẩu lô hàng của Công ty TNHH Minh Thành có phù hợp với quy định của pháp luật không?
Trả lời:
Việc cấm xuất khẩu lô hàng có liên quan đến quốc phòng trong trường hợp này là phù hợp với quy định của Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025.
Khoản 3 Điều 15 Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 quy định một trong các biện pháp được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng là:
“3. Cấm xuất khẩu đối với các mặt hàng có liên quan đến quốc phòng”.
Trong tình huống trên, lô hàng của Công ty TNHH Minh Thành gồm thiết bị thông tin liên lạc chuyên dụng và linh kiện máy bay không người lái, là các mặt hàng có liên quan đến quốc phòng. Do đó, khi tình trạng khẩn cấp về quốc phòng được ban bố, cơ quan có thẩm quyền có căn cứ áp dụng biện pháp cấm xuất khẩu đối với lô hàng này theo khoản 3 Điều 15 Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025.
Tình huống 7:
Tại xã M xảy ra cháy rừng lớn, khói bụi và lửa lan nhanh đến khu dân cư, đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của người dân. Sau khi khu vực này được đặt trong tình trạng khẩn cấp, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu các hộ dân trong vùng nguy hiểm di dời khẩn cấp đến nơi an toàn.
Nhiều hộ dân phải rời khỏi nhà trong đêm, không kịp mang theo lương thực, thuốc men và vật dụng thiết yếu. Trước tình hình đó, chính quyền địa phương bố trí nhà văn hóa xã làm nơi ở tạm thời, đồng thời cấp phát gạo, mì ăn liền, nước uống, thuốc chữa bệnh và các nhu yếu phẩm cần thiết để ổn định đời sống cho người dân.
Hỏi: Việc chính quyền địa phương cứu trợ, hỗ trợ lương thực, thuốc chữa bệnh, nhu yếu phẩm và bố trí nơi ở tạm thời cho người dân có phù hợp với quy định của Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025 không?
Trả lời:
Việc chính quyền địa phương thực hiện các biện pháp trên là phù hợp với quy định của pháp luật.
Khoản 1 Điều 16 Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, quy định biện pháp khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp gồm:
“1. Cứu trợ, hỗ trợ lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nhu yếu phẩm; bố trí nơi ăn ở tạm thời phục vụ việc di dời khẩn cấp các hộ dân đang sinh sống ở địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp, bảo đảm an toàn, ổn định tâm lý, cuộc sống của người dân”.
Trong tình huống trên, các hộ dân phải di dời khẩn cấp do cháy rừng đe dọa an toàn. Vì vậy, việc chính quyền bố trí nơi ở tạm thời, hỗ trợ lương thực, nước uống, thuốc chữa bệnh và nhu yếu phẩm là biện pháp khắc phục hậu quả cần thiết, có căn cứ theo khoản 1 Điều 16 Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025.
Tình huống 8:
Tại xã H xảy ra lũ quét nghiêm trọng, nhiều nhà dân bị cuốn trôi, giao thông bị chia cắt. Sau khi khu vực này được đặt trong tình trạng khẩn cấp, lực lượng chức năng tiến hành thống kê thiệt hại để thực hiện cứu trợ, hỗ trợ khẩn cấp.
Qua rà soát, ông T bị thương trong quá trình sơ tán; gia đình bà Y có chồng bị nước lũ cuốn mất tích; Các cá nhân, hộ gia đình này đề nghị được xem xét cứu trợ, hỗ trợ khẩn cấp.
Hỏi: Ông T, gia đình bà Y có thuộc đối tượng được cứu trợ, hỗ trợ khẩn cấp không?
Trả lời:
Ông T, gia đình bà Y thuộc đối tượng được cứu trợ, hỗ trợ khẩn cấp theo quy định của Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025.
Điểm a khoản 1 Điều 19 Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, quy định đối tượng được cứu trợ, hỗ trợ khẩn cấp bao gồm:
“a. Cá nhân bị thương, hộ gia đình có người bị chết, mất tích”.
Trong tình huống trên, ông T là cá nhân bị thương; gia đình bà Y có người mất tích do thảm họa lũ quét. Do đó, các trường hợp này thuộc đối tượng được cứu trợ, hỗ trợ khẩn cấp theo điểm a khoản 1 Điều 19 Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025.
Tình huống 9:
Tại xã D xảy ra hạn hán nghiêm trọng kéo dài, nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất bị thiếu hụt, nhiều diện tích cây trồng bị thiệt hại. Sau khi địa bàn xã D được đặt trong tình trạng khẩn cấp, một số hoạt động sản xuất phải tạm dừng để ưu tiên nguồn nước cho sinh hoạt và ứng phó khẩn cấp.
Công ty TNHH Nông sản Hòa Bình có vùng nguyên liệu nằm trong khu vực bị ảnh hưởng trực tiếp bởi hạn hán, phải tạm ngừng sản xuất, thiệt hại về cây trồng và chi phí duy trì hoạt động.
Hỏi: Công ty TNHH Nông sản Hòa Bình có thuộc đối tượng được hỗ trợ theo Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025 không?
Trả lời:
Công ty TNHH Nông sản Hòa Bình thuộc đối tượng được hỗ trợ theo quy định của Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025.
Khoản 2 Điều 19 Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, quy định:
“2. Đối tượng được hỗ trợ bao gồm cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi tình trạng khẩn cấp”.
Trong tình huống trên, Công ty TNHH Nông sản Hòa Bình là doanh nghiệp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi tình trạng khẩn cấp do hạn hán nghiêm trọng. Do đó, công ty thuộc đối tượng được xem xét hỗ trợ theo khoản 2 Điều 19 Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025.
Tình huống 10:
Tại xã G xảy ra bão lớn kèm lũ ống, làm nhiều tuyến đường bị chia cắt, nhà ở của người dân bị hư hỏng, một số hộ dân phải di dời khẩn cấp đến nơi an toàn. Sau khi địa bàn xã G được đặt trong tình trạng khẩn cấp, chính quyền địa phương cần kinh phí để mua lương thực, nước uống, thuốc chữa bệnh, thuê phương tiện vận chuyển và bố trí nơi ở tạm thời cho người dân.
Trước tình hình đó, cơ quan có thẩm quyền quyết định sử dụng nguồn ngân sách nhà nước để phục vụ công tác ứng phó, cứu trợ, hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng bởi tình trạng khẩn cấp.
Hỏi: Việc sử dụng ngân sách nhà nước để ứng phó, cứu trợ, hỗ trợ người dân trong trường hợp này có phù hợp với quy định của Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025 không?
Trả lời:
Việc sử dụng ngân sách nhà nước trong trường hợp này là phù hợp với quy định của pháp luật.
Điểm a khoản 1 Điều 21 Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025 quy định nguồn lực ứng phó, cứu trợ, hỗ trợ trong tình trạng khẩn cấp bao gồm:
“a. Ngân sách nhà nước”.
Trong tình huống trên, xã G được đặt trong tình trạng khẩn cấp do bão lớn, lũ ống gây thiệt hại nghiêm trọng. Việc sử dụng ngân sách nhà nước để mua lương thực, nước uống, thuốc chữa bệnh, thuê phương tiện vận chuyển và bố trí nơi ở tạm thời cho người dân là có căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 21 Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025.
Tình huống 11:
Phòng Tài chính của cơ quan A được giao tổng hợp, tham mưu báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí năm 2026 của cơ quan. Tuy nhiên, đến hết thời hạn quy định, phòng vẫn chưa hoàn thành báo cáo gửi cơ quan có thẩm quyền. Ngoài ra, dự thảo báo cáo đã chuẩn bị cũng chưa thể hiện đầy đủ kết quả thực hiện các chỉ tiêu tiết kiệm, chống lãng phí, chưa nêu rõ tồn tại, nguyên nhân và giải pháp khắc phục.
Hỏi: Việc chậm báo cáo và báo cáo không đầy đủ nội dung có phải là hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí không?
Trả lời:
Hành vi trên là vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 5 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí bao gồm:
“c. Vi phạm về thời hạn, nội dung báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí”.
Trong tình huống trên, Phòng Tài chính của cơ quan A đã không bảo đảm thời hạn báo cáo; đồng thời nội dung báo cáo chưa đầy đủ theo yêu cầu. Do đó, hành vi này thuộc trường hợp vi phạm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 5 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025.
Tình huống 12:
Cơ quan B dự kiến ban hành quyết định cắt giảm một số khoản chi thường xuyên, trong đó có việc điều chỉnh việc sử dụng xe công, giảm chi phí văn phòng phẩm, điện, nước để thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí. Tuy nhiên, trước khi ban hành quyết định, lãnh đạo cơ quan không tổ chức lấy ý kiến cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan.
Sau khi quyết định được ban hành, nhiều công chức, viên chức phản ánh một số nội dung chưa phù hợp với thực tế công việc, ảnh hưởng đến hoạt động chuyên môn của các bộ phận.
Hỏi: Việc không lấy ý kiến cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trước khi quyết định biện pháp tiết kiệm, chống lãng phí có phải là hành vi vi phạm không?
Trả lời:
Đây là hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí.
Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 5 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí bao gồm:
“e. Vi phạm trong việc lấy ý kiến cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trước khi quyết định đối với các biện pháp tiết kiệm, chống lãng phí tại cơ quan, tổ chức, đơn vị”.
Trong tình huống trên, cơ quan B đã ban hành biện pháp tiết kiệm, chống lãng phí nhưng không lấy ý kiến cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trước khi quyết định. Do đó, hành vi này thuộc trường hợp vi phạm quy định tại điểm e khoản 1 Điều 5 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025.
Tình huống 13:
Cơ quan C mỗi năm tiếp nhận số lượng lớn hồ sơ của người dân, doanh nghiệp. Trước đây, phần lớn hồ sơ đều được tiếp nhận bằng bản giấy, phải in ấn nhiều tài liệu, lưu trữ thủ công, mất nhiều thời gian luân chuyển giữa các bộ phận, phát sinh chi phí văn phòng phẩm, kho lưu trữ và nhân lực xử lý.
Để thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí, cơ quan C đã triển khai tiếp nhận hồ sơ trực tuyến, sử dụng chữ ký số, số hóa kết quả giải quyết thủ tục hành chính và cập nhật dữ liệu trên hệ thống dùng chung. Nhờ đó, thời gian xử lý hồ sơ được rút ngắn, giảm chi phí in ấn, lưu trữ, đi lại và hạn chế tình trạng hồ sơ chậm luân chuyển.
Hỏi: Việc cơ quan C gắn tiết kiệm, chống lãng phí với cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số có phù hợp với quy định của Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 không?
Trả lời:
Việc cơ quan C triển khai tiếp nhận hồ sơ trực tuyến, sử dụng chữ ký số, số hóa kết quả giải quyết thủ tục hành chính là phù hợp với nguyên tắc tiết kiệm, chống lãng phí.
Căn cứ khoản 3 Điều 6 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, quy định:
“3. Tiết kiệm, chống lãng phí phải gắn với cải cách hành chính, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số”.
Trong tình huống trên, cơ quan C đã áp dụng chuyển đổi số, cải cách quy trình giải quyết thủ tục hành chính để giảm giấy tờ, giảm chi phí, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Do đó, việc làm này phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 6 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025.
Tình huống 14:
Ông K là công chức tại cơ quan D. Do có mâu thuẫn cá nhân với bà H là kế toán của cơ quan, ông K đã gửi đơn phản ánh đến lãnh đạo cơ quan, cho rằng bà H cố ý lập chứng từ thanh toán khống, gây lãng phí ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, qua kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền xác định nội dung phản ánh của ông K là không đúng sự thật. Ông K không có tài liệu, chứng cứ chứng minh, nhưng vẫn cố tình đưa thông tin sai lệch nhằm làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của bà H.
Hỏi: Hành vi của ông K có vi phạm quy định của Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 không?
Trả lời:
Hành vi của ông K là hành vi lợi dụng việc đấu tranh chống lãng phí để vu khống cá nhân khác.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 8 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí bao gồm:
“a. Lợi dụng việc đấu tranh chống lãng phí để vu khống cơ quan, tổ chức, cá nhân khác”.
Trong tình huống trên, ông K đã lợi dụng việc phản ánh, đấu tranh chống lãng phí để đưa thông tin sai sự thật về bà H, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của cá nhân khác. Do đó, hành vi của ông K thuộc trường hợp bị nghiêm cấm theo điểm a khoản 5 Điều 8 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025.
Tình huống 15:
Chị Y là viên chức của đơn vị P. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, chị Y phát hiện đơn vị đã mua 05 máy photocopy đa chức năng phục vụ công tác chuyên môn, trong khi thực tế mỗi ngày đơn vị chỉ sử dụng thường xuyên 02 máy. Sau khi mua sắm, 03 máy còn lại không được đưa vào sử dụng, phải để trong kho nhiều tháng, gây lãng phí ngân sách nhà nước và lãng phí tài sản công.
Nhận thấy việc mua sắm vượt quá nhu cầu thực tế, chị Y đã phản ánh nội dung này đến người đứng đầu đơn vị và đề nghị rà soát lại việc quản lý, sử dụng tài sản công. Sau khi phản ánh, chị Y bị một số cá nhân trong đơn vị gây áp lực, không giao việc đúng chuyên môn, không mời tham gia các cuộc họp liên quan đến nhiệm vụ được phân công, đồng thời có lời nói xúc phạm, làm ảnh hưởng đến uy tín, tinh thần và quyền lợi hợp pháp của chị Y.
Hỏi: Hành vi gây áp lực, cô lập, xúc phạm chị Y sau khi chị phản ánh việc mua sắm tài sản công gây lãng phí có vi phạm quy định của Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 không?
Trả lời:
Hành vi trên là hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Căn cứ điểm b khoản 5 Điều 8 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí gồm:
“b. Dùng bạo lực, gây áp lực, vu khống, cô lập, xúc phạm hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người đấu tranh chống lãng phí và người thân”.
Trong tình huống trên, chị Y đã phản ánh việc đơn vị mua 05 máy photocopy đa chức năng vượt quá nhu cầu sử dụng thực tế, trong đó 03 máy không được sử dụng, gây lãng phí ngân sách nhà nước và tài sản công. Việc một số cá nhân gây áp lực, cô lập, xúc phạm chị Y sau khi chị thực hiện việc đấu tranh chống lãng phí là hành vi bị nghiêm cấm theo điểm b khoản 5 Điều 8 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025.
Tình huống 16:
Chị H là công chức của cơ quan B. Trong quá trình làm việc, chị H phát hiện cơ quan dự kiến thuê hội trường khách sạn để tổ chức hội nghị tổng kết với chi phí cao, trong khi hội trường của cơ quan vẫn đáp ứng đủ điều kiện sử dụng. Ngoài ra, kế hoạch còn dự kiến in ấn 300 bộ tài liệu giấy, mặc dù phần lớn đại biểu có thể nhận tài liệu điện tử qua hệ thống quản lý văn bản. Chị H cho rằng việc thuê hội trường bên ngoài và in ấn tài liệu vượt nhu cầu thực tế có nguy cơ gây lãng phí ngân sách nhà nước nên đã phản ánh đến người đứng đầu cơ quan.
Sau khi chị H phản ánh, một số cá nhân liên quan đến việc lập kế hoạch hội nghị đã đến trước nhà chị H chửi bới, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị. Các cá nhân này còn tự ý vào sân nhà, làm hỏng chậu cây cảnh và làm trầy xước xe máy của chị H, khiến chị và gia đình lo lắng, ảnh hưởng đến an toàn cá nhân và sinh hoạt hằng ngày.
Hỏi: Hành vi tự ý vào khu vực nhà ở, làm hỏng tài sản, xúc phạm danh dự chị H sau khi chị phản ánh việc gây lãng phí có vi phạm quy định của Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 không?
Trả lời:
Hành vi trên là hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Căn cứ điểm c khoản 5 Điều 8 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí gồm:
“c. Xâm phạm bất hợp pháp nhà ở, chỗ ở, chiếm giữ, hủy hoại tài sản, xúc phạm nhân phẩm, danh dự hoặc có hành vi ảnh hưởng đến sức khỏe, an toàn cá nhân của người đấu tranh chống lãng phí và người thân”.
Trong tình huống trên, chị H đã phản ánh việc thuê hội trường khách sạn khi hội trường cơ quan vẫn sử dụng được và việc in ấn tài liệu giấy vượt nhu cầu thực tế, có nguy cơ gây lãng phí ngân sách nhà nước. Việc một số cá nhân tự ý vào khu vực nhà ở, làm hỏng tài sản, xúc phạm danh dự, nhân phẩm và làm ảnh hưởng đến an toàn cá nhân của chị H thuộc trường hợp bị nghiêm cấm theo điểm c khoản 5 Điều 8 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025.
Tình huống 17:
Anh T là công chức của cơ quan B. Trong quá trình tham gia chuẩn bị hội nghị, anh T phát hiện bộ phận phụ trách hậu cần lập kế hoạch đặt 400 suất ăn phục vụ đại biểu, trong khi số lượng đại biểu thực tế chỉ khoảng 230 người. Ngoài ra, kế hoạch còn dự kiến thuê thêm hệ thống âm thanh, màn hình LED bên ngoài với chi phí cao, mặc dù hội trường của cơ quan đã có sẵn thiết bị đáp ứng yêu cầu tổ chức hội nghị.
Cho rằng việc đặt suất ăn vượt số lượng đại biểu và thuê thiết bị không cần thiết có nguy cơ gây lãng phí ngân sách nhà nước, anh T đã báo cáo người đứng đầu cơ quan, đề nghị điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với nhu cầu thực tế.
Sau khi anh T phản ánh, ông K là người trực tiếp lập kế hoạch hậu cần đã nhờ một số người quen gọi điện, nhắn tin đe dọa, yêu cầu anh T rút lại ý kiến. Những người này còn đến gần nhà anh T vào buổi tối, lớn tiếng uy hiếp tinh thần, khiến anh T và gia đình lo lắng, ảnh hưởng đến sinh hoạt, công việc và an toàn cá nhân.
Hỏi: Hành vi nhờ người khác uy hiếp tinh thần, trả thù anh T sau khi anh phản ánh việc gây lãng phí có vi phạm quy định của Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 không?
Trả lời:
Hành vi trên là hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Căn cứ điểm d khoản 5 Điều 8 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí gồm:
“d. Trả thù hoặc thuê, nhờ, xúi giục người khác uy hiếp tinh thần, trả thù người đấu tranh chống lãng phí và người thân”.
Trong tình huống trên, anh T đã phản ánh việc đặt suất ăn vượt quá số lượng đại biểu thực tế và thuê thiết bị không cần thiết, có nguy cơ gây lãng phí ngân sách nhà nước. Việc ông K nhờ người khác gọi điện, nhắn tin đe dọa, đến gần nhà uy hiếp tinh thần nhằm buộc anh T rút lại ý kiến là hành vi bị nghiêm cấm theo điểm d khoản 5 Điều 8 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025.
Tình huống 18:
Ông P là người đứng đầu đơn vị G, được giao trực tiếp quản lý, chỉ đạo việc sử dụng xe ô tô công của đơn vị. Theo quy chế, xe ô tô công chỉ được sử dụng phục vụ nhiệm vụ công vụ, không sử dụng vào mục đích cá nhân hoặc các việc không thuộc nhiệm vụ được giao.
Tuy nhiên, trong thời gian dài, ông P thiếu kiểm tra, buông lỏng quản lý, không chỉ đạo theo dõi lịch trình, không yêu cầu ghi chép đầy đủ sổ nhật trình xe. Một số cá nhân trong đơn vị đã sử dụng xe công để đi việc riêng, đưa đón người thân, đi lễ hội, đi liên hoan ngoài nhiệm vụ công vụ. Việc sử dụng xe công không đúng mục đích làm phát sinh chi phí xăng dầu, bảo dưỡng, lái xe, gây lãng phí ngân sách nhà nước và tài sản công.
Hỏi: Việc ông P thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý để xảy ra tình trạng sử dụng xe công sai mục đích, gây lãng phí có phải là hành vi vi phạm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo về tiết kiệm, chống lãng phí không?
Trả lời:
Hành vi của ông P là hành vi vi phạm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 5 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, hành vi vi phạm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí bao gồm:
“a. Thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý để xảy ra lãng phí trong khu vực nhà nước thuộc phạm vi trực tiếp lãnh đạo, quản lý hoặc phân công phụ trách”.
Trong tình huống trên, ông P là người đứng đầu đơn vị, có trách nhiệm lãnh đạo, quản lý việc sử dụng xe ô tô công. Tuy nhiên, ông P đã thiếu kiểm tra, buông lỏng quản lý, để xảy ra việc sử dụng xe công sai mục đích, làm phát sinh chi phí không cần thiết, gây lãng phí ngân sách nhà nước và tài sản công. Do đó, hành vi của ông P thuộc trường hợp vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025.
Tình huống 19:
Trung tâm M được giao tổ chức lớp tập huấn nghiệp vụ cho 80 đại biểu trong 02 ngày, kinh phí thực hiện từ ngân sách nhà nước. Theo dự toán được phê duyệt, kinh phí chỉ được sử dụng để chi tài liệu, nước uống, thuê hội trường và hỗ trợ tiền ăn cho đại biểu tham dự thực tế theo đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ quy định.
Tuy nhiên, khi lập hồ sơ quyết toán, bộ phận tài chính của Trung tâm M đã quyết toán tiền ăn cho 100 người, trong đó có 20 người không tham dự lớp tập huấn. Ngoài ra, đơn vị còn đưa vào quyết toán khoản thuê thêm thiết bị trình chiếu bên ngoài, mặc dù hội trường đã có sẵn thiết bị sử dụng được. Một số chứng từ thanh toán không đầy đủ chữ ký xác nhận, nội dung chi không đúng với thực tế phát sinh và một số khoản chi vượt định mức được duyệt.
Việc quyết toán sai nội dung, sai đối tượng, vượt định mức làm tăng chi ngân sách không cần thiết, gây lãng phí ngân sách nhà nước.
Hỏi: Hành vi quyết toán chi ngân sách nhà nước như trên có vi phạm quy định của Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 không?
Trả lời:
Có. Hành vi trên là hành vi vi phạm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, hành vi vi phạm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí bao gồm:
“c. Quyết toán chi ngân sách nhà nước không đúng, không đủ thủ tục, sai nội dung, đối tượng, vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ quy định; duyệt quyết toán chậm, trì hoãn quyết toán sai quy định của pháp luật, gây lãng phí”.
Trong tình huống trên, Trung tâm A đã quyết toán tiền ăn cho cả người không tham dự tập huấn, quyết toán khoản thuê thiết bị không cần thiết, hồ sơ chứng từ không đầy đủ và có khoản chi vượt định mức. Những hành vi này làm phát sinh chi ngân sách không đúng thực tế, không đúng đối tượng, vượt tiêu chuẩn, chế độ quy định, gây lãng phí ngân sách nhà nước. Do đó, hành vi của Trung tâm A thuộc trường hợp vi phạm theo điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025.
Tình huống 20:
Ban Quản lý dự án D được giao làm chủ đầu tư dự án xây dựng Trường Mầm non xã H, sử dụng vốn đầu tư công từ ngân sách nhà nước. Dự án đã được bố trí vốn trong kế hoạch đầu tư công năm 2025 để xây mới 08 phòng học, khu bếp ăn và sân chơi cho trẻ em.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, Ban Quản lý dự án D chậm hoàn thiện hồ sơ lựa chọn nhà thầu, chậm trình phê duyệt thiết kế, dự toán và không kịp thời tháo gỡ vướng mắc thuộc trách nhiệm của mình. Việc chậm trễ này xuất phát từ nguyên nhân chủ quan trong công tác quản lý, điều hành của chủ đầu tư, làm vốn đầu tư công đã được bố trí nhưng không giải ngân đúng tiến độ.
Do dự án chậm triển khai, công trình không kịp hoàn thành trước năm học mới. Một số phòng học cũ tiếp tục phải sử dụng dù đã xuống cấp; địa phương phải thuê tạm phòng học bên ngoài để bố trí lớp học, làm phát sinh thêm chi phí. Sau khi công trình hoàn thành, Ban Quản lý dự án D tiếp tục chậm lập hồ sơ quyết toán dự án hoàn thành, kéo dài thời gian tất toán, gây khó khăn cho công tác quản lý vốn đầu tư công.
Hỏi: Việc chậm giải ngân vốn đầu tư công do nguyên nhân chủ quan và chậm quyết toán dự án của Ban Quản lý dự án D có phải là hành vi gây lãng phí không?
Trả lời:
Hành vi trên là hành vi gây lãng phí trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư công.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 3 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, hành vi gây lãng phí bao gồm:
“đ. Chậm giải ngân vốn đầu tư công do nguyên nhân chủ quan; không quyết toán, chậm quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công dẫn đến lãng phí”.
Trong tình huống trên, Ban Quản lý dự án A đã chậm hoàn thiện hồ sơ, chậm trình phê duyệt các thủ tục cần thiết và không kịp thời xử lý vướng mắc thuộc trách nhiệm của mình, làm vốn đầu tư công không được giải ngân đúng tiến độ. Việc chậm triển khai dự án khiến công trình trường học không kịp đưa vào sử dụng, phát sinh chi phí thuê phòng học tạm và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước. Đồng thời, việc chậm lập hồ sơ quyết toán dự án hoàn thành tiếp tục kéo dài quá trình quản lý, tất toán vốn đầu tư công. Do đó, hành vi này thuộc trường hợp gây lãng phí theo điểm đ khoản 2 Điều 3 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025.
Tình huống 21:
Trường THCS X được trang bị 30 bộ máy vi tính để phục vụ việc dạy và học môn Tin học. Sau một thời gian sử dụng, nhà trường được cấp thêm một số máy tính mới. Qua kiểm tra thực tế, 18 bộ máy tính cũ vẫn còn hoạt động bình thường, có thể tiếp tục sử dụng cho phòng học phụ hoặc điều chuyển cho điểm trường còn thiếu thiết bị.
Tuy nhiên, ông H là người được giao quản lý tài sản của nhà trường đã không lập hồ sơ đề xuất điều chuyển, không thực hiện kiểm kê, đánh giá tình trạng tài sản và không báo cáo cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định. Ông H tự ý cho tháo dỡ một số linh kiện, bán các bộ máy tính cũ cho cơ sở thu mua với giá thấp. Toàn bộ số tiền thu được không được nộp vào tài khoản của đơn vị theo quy định.
Việc tự ý xử lý tài sản công làm nhiều máy tính còn sử dụng được bị tháo dỡ, hư hỏng, không còn khả năng tiếp tục phục vụ hoạt động giáo dục, gây lãng phí tài sản công.
Hỏi: Hành vi tự ý xử lý, bán máy tính công còn sử dụng được của ông H có vi phạm quy định của Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 không?
Trả lời:
Hành vi của ông H là hành vi xử lý tài sản công trái quy định, gây lãng phí tài sản của Nhà nước.
Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 3 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, hành vi gây lãng phí bao gồm:
“h, Xử lý tài sản công trái quy định của pháp luật; hủy hoại, cố ý làm hư hỏng, chiếm đoạt, chiếm giữ, sử dụng trái phép tài sản công”.
Trong tình huống trên, 18 bộ máy tính là tài sản công, vẫn còn khả năng sử dụng nhưng ông H đã tự ý tháo dỡ, bán cho cơ sở thu mua mà không thực hiện đúng trình tự, thủ tục xử lý tài sản công. Hành vi này làm hư hỏng, thất thoát tài sản công, gây lãng phí trong quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước. Do đó, hành vi của ông H thuộc trường hợp vi phạm quy định tại điểm h khoản 2 Điều 3 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025.
Tình huống 22:
Công ty A được cấp phép khai thác than tại khu vực đồi B. Theo phương án bảo vệ môi trường đã được phê duyệt, công ty phải xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải mỏ, bùn thải trước khi xả ra môi trường.
Tuy nhiên, để giảm chi phí vận hành, Công ty A không thường xuyên vận hành hệ thống xử lý nước thải, để nước thải lẫn bùn đất, hóa chất từ khu vực khai thác chảy trực tiếp xuống suối C. Sau một thời gian, nguồn nước suối bị đục, có mùi lạ, cá chết, nhiều diện tích ruộng của người dân không thể lấy nước tưới. Chính quyền địa phương phải bố trí nguồn nước thay thế và tổ chức khắc phục ô nhiễm, làm phát sinh thêm chi phí từ ngân sách.
Hành vi của Công ty A đã làm ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng đến việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước, đồng thời gây lãng phí tài nguyên và chi phí xử lý, khắc phục hậu quả.
Hỏi: Hành vi gây ô nhiễm nguồn nước trong quá trình khai thác than của Công ty A có phải là hành vi gây lãng phí theo Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 không?
Trả lời:
Hành vi của Công ty A là hành vi gây lãng phí trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, năng lượng.
Căn cứ điểm b khoản 5 Điều 3 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, hành vi gây lãng phí trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, năng lượng bao gồm:
“b, Gây ô nhiễm, hủy hoại tài nguyên, năng lượng quốc gia, gây lãng phí”.
Trong tình huống trên, Công ty A đã không vận hành đầy đủ hệ thống xử lý nước thải mỏ, để nước thải từ hoạt động khai thác than chảy trực tiếp ra suối, làm ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng đến sản xuất, sinh hoạt của người dân và làm phát sinh chi phí khắc phục. Do đó, hành vi này thuộc trường hợp gây ô nhiễm, hủy hoại tài nguyên, gây lãng phí theo điểm b khoản 5 Điều 3 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025.
Tình huống 23:
Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng A được giao thực hiện dự án xây dựng tuyến đường kết nối khu dân cư với khu sản xuất tập trung tại xã B. Theo tiến độ được phê duyệt, công tác giải phóng mặt bằng phải hoàn thành trong quý II năm 2027 để dự án khởi công đúng kế hoạch.
Tuy nhiên, do chủ quan trong công tác chỉ đạo, Ban Quản lý dự án A chậm kiểm đếm đất đai, tài sản trên đất, chậm phối hợp với cơ quan chuyên môn để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Một số trường hợp hộ dân chưa đủ điều kiện vẫn được đưa vào danh sách hỗ trợ, trong khi có hộ bị ảnh hưởng trực tiếp lại chưa được lập phương án đầy đủ. Việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ không đúng quy định làm phát sinh khiếu nại, phải rà soát, điều chỉnh nhiều lần.
Mặc dù mặt bằng chưa được bàn giao đầy đủ và một số hạng mục chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo quy định, Ban Quản lý dự án A vẫn cho nhà thầu khởi công trước. Sau đó, công trình phải tạm dừng thi công, máy móc, nhân công phải chờ đợi, vật liệu tập kết bị hư hỏng, làm tăng chi phí và kéo dài thời gian thực hiện dự án, gây lãng phí vốn đầu tư công.
Hỏi: Việc chậm giải phóng mặt bằng do nguyên nhân chủ quan, khởi công công trình khi chưa được phê duyệt và thực hiện bồi thường, hỗ trợ không đúng quy định có phải là hành vi gây lãng phí không?
Trả lời:
Hành vi trên là hành vi gây lãng phí trong quản lý, thực hiện dự án đầu tư.
Căn cứ điểm đ khoản 5 Điều 3 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, hành vi gây lãng phí bao gồm:
“đ, Giải phóng mặt bằng, thực hiện dự án chậm so với tiến độ đã được phê duyệt do nguyên nhân chủ quan; thực hiện dự án, khởi công công trình trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư không đúng quy định, gây lãng phí”.
Trong tình huống trên, Ban Quản lý dự án A đã chậm giải phóng mặt bằng do nguyên nhân chủ quan; thực hiện bồi thường, hỗ trợ chưa đúng đối tượng, chưa đúng quy định; đồng thời cho khởi công khi chưa đủ điều kiện phê duyệt. Những việc này làm dự án phải tạm dừng, phát sinh chi phí nhân công, máy móc, vật liệu và kéo dài thời gian thực hiện, gây lãng phí vốn đầu tư công. Do đó, hành vi này thuộc trường hợp gây lãng phí theo điểm đ khoản 5 Điều 3 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025.
Tình huống 24:
Cơ quan X được giao quản lý cơ sở dữ liệu số về hồ sơ thủ tục hành chính của người dân, doanh nghiệp trên địa bàn. Cơ sở dữ liệu này đã được đầu tư từ ngân sách nhà nước, có chức năng lưu trữ, tra cứu, cập nhật và chia sẻ thông tin phục vụ giải quyết thủ tục hành chính.
Tuy nhiên, do thiếu trách nhiệm trong quản lý, cơ quan X không thường xuyên cập nhật dữ liệu, không phân công cán bộ kiểm tra chất lượng thông tin, để nhiều hồ sơ bị nhập trùng, sai mã định danh, sai thông tin địa chỉ. Khi các phòng chuyên môn cần khai thác dữ liệu để giải quyết thủ tục hành chính, hệ thống không sử dụng hiệu quả, nhiều thông tin phải yêu cầu người dân cung cấp lại bằng bản giấy.
Ngoài ra, cơ quan X tiếp tục thuê một đơn vị khác xây dựng phần mềm quản lý hồ sơ riêng, có chức năng trùng lặp với cơ sở dữ liệu số đã được đầu tư trước đó. Việc này làm phát sinh thêm chi phí thuê phần mềm, chi phí nhập lại dữ liệu, chi phí vận hành, trong khi cơ sở dữ liệu hiện có không được khai thác đúng mục đích, gây lãng phí ngân sách nhà nước.
Hỏi: Việc quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu số không đúng quy định, làm phát sinh chi phí trùng lặp như trên có phải là hành vi gây lãng phí không?
Trả lời:
Hành vi trên là hành vi gây lãng phí trong quản lý, khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu số.
Căn cứ điểm i khoản 5 Điều 3 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, hành vi gây lãng phí bao gồm:
“i, Quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu số trái quy định, gây lãng phí”.
Trong tình huống trên, cơ quan X đã không quản lý, cập nhật, khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu số đã được đầu tư từ ngân sách nhà nước; để dữ liệu bị trùng lặp, sai lệch, không phục vụ tốt việc giải quyết thủ tục hành chính. Đồng thời, việc thuê thêm phần mềm có chức năng trùng lặp làm phát sinh chi phí không cần thiết. Do đó, hành vi này thuộc trường hợp quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu số trái quy định, gây lãng phí theo điểm i khoản 5 Điều 3 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025.
Tình huống 25:
Tổng công ty A là doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối, được giao quản lý, sử dụng phần vốn chủ sở hữu nhà nước để đầu tư sản xuất, kinh doanh. Ông H là người đại diện phần vốn nhà nước tại Tổng công ty A, có trách nhiệm theo dõi, giám sát việc quản lý, sử dụng vốn và kịp thời báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu khi phát hiện nguy cơ thất thoát vốn.
Trong quá trình hoạt động, Tổng công ty A quyết định góp vốn vào Công ty B để thực hiện dự án xây dựng nhà máy chế biến nông sản. Tuy nhiên, trước khi góp vốn, ông H không yêu cầu đánh giá đầy đủ năng lực tài chính của Công ty B, không thẩm định hiệu quả dự án, không kiểm tra phương án sử dụng vốn và cũng không giám sát chặt chẽ tiến độ thực hiện sau khi vốn nhà nước đã được chuyển sang dự án.
Sau một thời gian, dự án không triển khai được do Công ty B thiếu năng lực tài chính, đất thực hiện dự án chưa hoàn tất thủ tục pháp lý, máy móc đã mua không đưa vào vận hành. Phần vốn góp của Tổng công ty A bị thua lỗ nghiêm trọng, có nguy cơ không thu hồi được, làm thất thoát vốn chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp.
Hỏi: Việc quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp không chặt chẽ, kém hiệu quả dẫn đến thất thoát vốn như trên có phải là hành vi gây lãng phí không?
Trả lời:
Hành vi trên là hành vi gây lãng phí trong quản lý, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Căn cứ điểm đ khoản 6 Điều 4 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, hành vi gây lãng phí trong quản lý, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp bao gồm:
“đ, Quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp không chặt chẽ, kém hiệu quả dẫn đến thất thoát, mất vốn chủ sở hữu nhà nước”.
Trong tình huống trên, ông H là người đại diện phần vốn nhà nước nhưng đã thiếu trách nhiệm trong việc thẩm định, theo dõi, giám sát khoản vốn góp của Tổng công ty A vào Công ty B. Việc quản lý vốn không chặt chẽ, không đánh giá đúng hiệu quả đầu tư đã dẫn đến dự án không triển khai được, phần vốn nhà nước có nguy cơ bị thất thoát, mất vốn. Do đó, hành vi này thuộc trường hợp gây lãng phí theo điểm đ khoản 6 Điều 4 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025.
Tình huống 26:
Do nghe theo thông tin lan truyền trên mạng xã hội, anh A đăng tải nhiều bài viết trên trang cá nhân khẳng định một loại nước thảo dược có thể "điều trị dứt điểm mọi bệnh truyền nhiễm" và cho rằng các khuyến cáo của cơ quan y tế là không cần thiết. Nhiều người tin tưởng thông tin này nên từ chối thực hiện các biện pháp phòng bệnh theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn.
Hỏi: Hành vi của anh A có vi phạm quy định của Luật Phòng bệnh năm 2025 không?
Trả lời:
Hành vi của anh A là hành vi cố ý đưa thông tin sai sự thật về phòng bệnh.
Theo khoản 3 Điều 8 Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, quy định nghiêm cấm hành vi:
"3. Cố ý khai báo, thông tin giả mạo, sai lệch, sai sự thật về phòng bệnh."
Trong tình huống trên, mặc dù không có căn cứ khoa học và trái với hướng dẫn của cơ quan y tế có thẩm quyền, anh A vẫn đăng tải, lan truyền thông tin sai sự thật về phương pháp phòng bệnh, làm nhiều người hiểu sai và không thực hiện các biện pháp phòng bệnh theo quy định.
Do đó, hành vi của anh A thuộc trường hợp bị nghiêm cấm theo khoản 3 Điều 8 Luật Phòng bệnh năm 2025. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, anh A có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tình huống 27:
Để thu hút khách hàng, một cơ sở làm đẹp trên địa bàn huyện X tổ chức tiêm vắc xin phòng bệnh cho người dân ngay tại cửa hàng. Mặc dù không được cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoạt động tiêm chủng và không đáp ứng các điều kiện về nhân lực, trang thiết bị, cơ sở này vẫn quảng cáo và trực tiếp tổ chức tiêm cho nhiều khách hàng.
Hỏi: Hành vi của cơ sở làm đẹp trên có vi phạm quy định của Luật Phòng bệnh năm 2025 không?
Trả lời:
Hành vi của cơ sở làm đẹp là tổ chức tiêm chủng tại địa điểm không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Theo khoản 7 Điều 8 Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, quy định nghiêm cấm hành vi:
"7. Tổ chức tiêm chủng, tổ chức xét nghiệm tại cơ sở, địa điểm không đủ điều kiện."
Trong tình huống trên, cơ sở làm đẹp không đủ điều kiện theo quy định nhưng vẫn tổ chức tiêm chủng cho người dân, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người được tiêm và gây mất an toàn trong công tác phòng bệnh.
Do đó, hành vi của cơ sở làm đẹp thuộc trường hợp bị nghiêm cấm theo khoản 7 Điều 8 Luật Phòng bệnh năm 2025. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, cơ sở và cá nhân có liên quan có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tình huống 28:
Sau khi được cơ sở y tế xác định mắc một bệnh truyền nhiễm thuộc diện phải khai báo theo quy định, chị B không thông báo cho cơ quan y tế, đồng thời tiếp tục tham gia các hoạt động tập trung đông người nhằm tránh ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống cá nhân.
Hỏi: Hành vi của chị B có vi phạm quy định của Luật Phòng bệnh năm 2025 không?
Trả lời:
Hành vi của chị B là hành vi cố ý che giấu, không khai báo trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật.
Theo điểm c khoản 8 Điều 8 Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, quy định nghiêm cấm hành vi:
"c, Che giấu, cố ý không khai báo các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật."
Trong tình huống trên, mặc dù biết mình mắc bệnh truyền nhiễm thuộc diện phải khai báo, chị B vẫn cố tình che giấu thông tin và tiếp tục tham gia các hoạt động đông người, làm gia tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh trong cộng đồng.
Do đó, hành vi của chị B thuộc trường hợp bị nghiêm cấm theo điểm c khoản 8 Điều 8 Luật Phòng bệnh năm 2025. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, chị B có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tình huống 29:
Trong thời gian cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp cách ly để phòng, chống bệnh truyền nhiễm đối với người có nguy cơ lây nhiễm, ông C đã tự ý rời khỏi nơi cách ly, không chấp hành yêu cầu của cơ quan chức năng và tiếp tục tham gia nhiều hoạt động tập trung đông người.
Hỏi: Hành vi của ông C có vi phạm quy định của Luật Phòng bệnh năm 2025 không?
Trả lời:
Hành vi của ông C là hành vi không chấp hành các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Theo điểm d khoản 8 Điều 8 Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, quy định nghiêm cấm hành vi:
"d, Không chấp hành các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền."
Trong tình huống trên, mặc dù đã có quyết định áp dụng biện pháp cách ly của cơ quan có thẩm quyền, ông C vẫn tự ý rời khỏi nơi cách ly và không thực hiện các yêu cầu về phòng, chống dịch bệnh, làm gia tăng nguy cơ lây lan bệnh truyền nhiễm trong cộng đồng.
Do đó, hành vi của ông C thuộc trường hợp bị nghiêm cấm theo điểm d khoản 8 Điều 8 Luật Phòng bệnh năm 2025. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, ông C có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tình huống 30:
Trong buổi sinh hoạt tại khu dân cư, Trạm Y tế xã phối hợp với các đoàn thể tổ chức tuyên truyền, vận động người dân hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân Việt Nam bằng các hoạt động như: khám sức khỏe định kỳ, tập luyện thể dục thể thao, tư vấn dinh dưỡng và phòng, chống bệnh tật. Tuy nhiên, anh H cho rằng Việt Nam không có ngày nào dành riêng để tôn vinh và nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khỏe nhân dân nên không tham gia các hoạt động tuyên truyền.
Hỏi: Theo quy định của Luật Phòng bệnh năm 2025, Việt Nam có quy định về Ngày Sức khỏe toàn dân Việt Nam không?
Trả lời:
Theo Điều 7 Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, quy định:
"Ngày Sức khỏe toàn dân Việt Nam là ngày 07 tháng 4 hằng năm."
Việc quy định Ngày Sức khỏe toàn dân Việt Nam vào ngày 07 tháng 4 hằng năm nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò của công tác phòng bệnh, khuyến khích mỗi người dân chủ động bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe; tích cực tham gia các hoạt động truyền thông, khám sức khỏe, tiêm chủng, rèn luyện thể chất và thực hiện lối sống lành mạnh.
Do đó, anh H cần hiểu rằng ngày 07 tháng 4 hằng năm là Ngày Sức khỏe toàn dân Việt Nam theo quy định của pháp luật và nên tích cực hưởng ứng các hoạt động do cơ quan, tổ chức, địa phương phát động nhằm góp phần bảo vệ sức khỏe bản thân, gia đình và cộng đồng.
Tình huống 31:
Tại xã X, sau khi ghi nhận nhiều ca mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A, cơ quan y tế đã tiến hành điều tra dịch tễ và xác định chị H là người tiếp xúc gần với người mắc bệnh. Cơ quan y tế yêu cầu chị H thực hiện giám sát sức khỏe trong thời gian theo quy định và cung cấp đầy đủ thông tin phục vụ công tác giám sát dịch tễ.
Tuy nhiên, chị H cho rằng bản thân không có triệu chứng mắc bệnh nên từ chối thực hiện việc giám sát, không hợp tác cung cấp thông tin về quá trình tiếp xúc với người mắc bệnh và tự ý rời khỏi nơi cư trú trong thời gian cơ quan y tế đang thực hiện giám sát.
Hỏi: Chị H có thuộc đối tượng giám sát trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo quy định của Luật Phòng bệnh năm 2025 hay không?
Trả lời:
Có. Chị H thuộc đối tượng giám sát trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật.
Theo điểm a khoản 1 Điều 13 Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, quy định:
"Điều 13. Giám sát trong phòng bệnh
1. Đối tượng giám sát trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm bao gồm:
a) Người mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm và người tiếp xúc."
Trong tình huống trên, chị H được cơ quan y tế xác định là người tiếp xúc với người mắc bệnh truyền nhiễm. Do đó, chị H thuộc đối tượng giám sát theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm.
Vì vậy, việc cơ quan y tế yêu cầu chị H thực hiện giám sát sức khỏe và phối hợp cung cấp thông tin là phù hợp với quy định của pháp luật. Chị H có trách nhiệm chấp hành các yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giám sát để phục vụ công tác phòng, chống bệnh truyền nhiễm. Trường hợp không chấp hành, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, chị H có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tình huống 32:
Tại xã A, sau khi trở về từ khu vực đang có dịch bệnh truyền nhiễm, anh T xuất hiện các triệu chứng sốt, ho và đến Trung tâm Y tế khám bệnh. Theo hướng dẫn của nhân viên y tế, anh T phải khai báo thông tin về lịch trình di chuyển và tình trạng sức khỏe để phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh. Tuy nhiên, anh T cho rằng việc khai báo là không cần thiết nên cố tình không khai báo đầy đủ thông tin theo yêu cầu.
Hỏi: Anh T có phải thực hiện việc khai báo thông tin về bệnh truyền nhiễm theo quy định của Luật Phòng bệnh năm 2025 hay không?
Trả lời:
Anh T có trách nhiệm thực hiện việc khai báo thông tin về bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật.
Theo điểm b khoản 1 Điều 16 Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, quy định:
"Điều 16. Các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm
1. Các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm bao gồm:
b) Khai báo thông tin về bệnh truyền nhiễm thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế."
Trong tình huống trên, anh T đến cơ sở y tế khi có dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm và được yêu cầu khai báo thông tin phục vụ công tác phòng, chống dịch. Việc khai báo đầy đủ, trung thực là một trong các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm được pháp luật quy định.
Vì vậy, anh T có trách nhiệm thực hiện việc khai báo theo hướng dẫn của cơ quan y tế. Trường hợp không thực hiện hoặc khai báo không trung thực, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, anh T có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tình huống 33:
Tại xã M, trong cùng một tuần có nhiều người dân xuất hiện triệu chứng sốt, ho và được xác định mắc cùng một bệnh truyền nhiễm. Cơ quan y tế tiến hành điều tra dịch tễ, xác định nguồn lây, xử lý ổ dịch và yêu cầu các hộ dân trong khu vực cung cấp thông tin liên quan để phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh. Tuy nhiên, một số hộ dân không hợp tác, từ chối cung cấp thông tin vì cho rằng đây là việc riêng của gia đình.
Hỏi: Cơ quan y tế có được tiến hành điều tra, xử lý ổ dịch và yêu cầu người dân cung cấp thông tin theo quy định của Luật Phòng bệnh năm 2025 hay không?
Trả lời:
Cơ quan y tế được thực hiện các biện pháp điều tra, xử lý ổ dịch và thu thập thông tin để phục vụ công tác phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật.
Theo điểm c khoản 1 Điều 16 Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, quy định:
"Điều 16. Các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm
1. Các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm bao gồm:
c) Đánh giá nguy cơ, cảnh báo dịch bệnh; điều tra, xử lý ổ dịch, dịch bệnh và báo cáo, thông tin dịch bệnh."
Trong tình huống trên, việc cơ quan y tế tiến hành điều tra dịch tễ, đánh giá nguy cơ, xác định nguồn lây, xử lý ổ dịch và yêu cầu người dân cung cấp thông tin là biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm được pháp luật quy định nhằm kịp thời kiểm soát và ngăn chặn dịch bệnh lây lan trong cộng đồng.
Vì vậy, người dân có trách nhiệm phối hợp với cơ quan y tế trong quá trình điều tra, xử lý ổ dịch và cung cấp thông tin theo yêu cầu. Trường hợp không chấp hành, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tình huống 34:
Bà B là cá nhân không cư trú tại Việt Nam. Bà B ký hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn chiến lược kinh doanh cho Công ty An Bình tại Việt Nam với giá trị hợp đồng là 200 triệu đồng. Theo thỏa thuận, công ty thanh toán toàn bộ tiền dịch vụ cho bà B sau khi hoàn thành báo cáo tư vấn.
Bà B cho rằng mình không cư trú tại Việt Nam nên không phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu từ hợp đồng này.
Hỏi: Bà B có phải nộp thuế thu nhập cá nhân không?
Trả lời:
Bà B phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ kinh doanh tại Việt Nam.
Theo Điều 21 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định: Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ kinh doanh của cá nhân không cư trú được xác định bằng doanh thu từ hoạt động kinh doanh nhân với thuế suất.
Trong tình huống này, bà B cung cấp dịch vụ tư vấn cho doanh nghiệp tại Việt Nam, doanh thu tính thuế là 200 triệu đồng.
Đối với hoạt động dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu, thuế suất là 5%.
Số thuế thu nhập cá nhân bà B phải nộp là:
200 triệu đồng x 5% = 10 triệu đồng.
Như vậy, bà B phải nộp 10 triệu đồng thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu từ dịch vụ tư vấn.