15 tình huống tuyên truyền pháp luật

Thứ năm - 09/07/2026 03:15 14 0
Tình huống 1:
Tại Trung tâm Phục vụ hành chính công A, ông Nguyễn Văn B đến phản ánh với công chức tiếp nhận hồ sơ: "Tôi vừa thực hiện thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân trên Cổng dịch vụ công của tỉnh. Tôi kê khai hồ sơ trên mạng, thanh toán lệ phí trực tuyến và nhận kết quả điện tử mà không phải đến UBND xã. Tuy nhiên, tôi nghe có người nói việc này chỉ là đưa hồ sơ lên mạng, tức là ứng dụng công nghệ thông tin chứ chưa phải chuyển đổi số. Một số người khác lại cho rằng đây là chuyển đổi số vì không còn phải đến cơ quan nhà nước làm thủ tục. Tôi cũng muốn hỏi thêm, dịch vụ tôi vừa sử dụng là dịch vụ công trực tuyến toàn trình hay chỉ là dịch vụ công trực tuyến một phần?". Công chức tiếp nhận hồ sơ giải thích như thế nào theo quy định của Luật Chuyển đổi số năm 2025?
Trả lời:
1. Việc thực hiện thủ tục hành chính của ông B có phải là chuyển đổi số hay chỉ là ứng dụng công nghệ thông tin?
Quan điểm thứ nhất cho rằng đây chỉ là ứng dụng công nghệ thông tin vì người dân chỉ thay việc nộp hồ sơ giấy bằng hồ sơ điện tử.
Quan điểm thứ hai cho rằng đây là hoạt động chuyển đổi số vì toàn bộ quá trình giải quyết thủ tục hành chính đã được thực hiện trên môi trường số.
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Chuyển đổi số năm 2025: Chuyển đổi số là quá trình chuyển đổi phương thức hoạt động, quản trị và cung cấp dịch vụ dựa trên công nghệ số, dữ liệu số, hệ thống số, nền tảng số và quy trình số nhằm tạo ra giá trị mới, nâng cao hiệu quả hoạt động và tính minh bạch.
Trong tình huống này, cơ quan nhà nước không chỉ sử dụng máy tính để hỗ trợ xử lý hồ sơ mà đã chuyển toàn bộ quy trình từ tiếp nhận hồ sơ, xử lý, thanh toán lệ phí đến trả kết quả sang môi trường số. Đây là sự thay đổi phương thức cung cấp dịch vụ công, thuộc hoạt động chuyển đổi số trong cơ quan nhà nước, góp phần xây dựng chính phủ số theo khoản 11 Điều 3 Luật Chuyển đổi số năm 2025.
2. Dịch vụ ông B sử dụng là dịch vụ công trực tuyến toàn trình hay một phần?
Khoản 15 Điều 3 Luật Chuyển đổi số năm 2025 quy định:
“Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác do cơ quan nhà nước cung cấp trên môi trường số, bao gồm dịch vụ công trực tuyến toàn trình và dịch vụ công trực tuyến một phần.
Dịch vụ công trực tuyến toàn trình là dịch vụ công trực tuyến được thực hiện hoàn toàn trên môi trường số, bao gồm nộp, tiếp nhận hồ sơ, xử lý, thanh toán (nếu có) và trả kết quả.
Ông B đã thực hiện: nộp hồ sơ trực tuyến; thanh toán lệ phí trực tuyến; nhận kết quả điện tử; và không phải đến cơ quan nhà nước trong suốt quá trình giải quyết thủ tục hành chính. Do đó, dịch vụ ông B sử dụng là dịch vụ công trực tuyến toàn trình theo khoản 15 Điều 3 Luật Chuyển đổi số năm 2025.
Việc thực hiện thủ tục hành chính của ông B là hoạt động chuyển đổi số, không chỉ đơn thuần là ứng dụng công nghệ thông tin. Dịch vụ mà ông B sử dụng là dịch vụ công trực tuyến toàn trình, vì toàn bộ quy trình giải quyết thủ tục hành chính được thực hiện trên môi trường số theo quy định của Luật Chuyển đổi số năm 2025.
Tình huống 2:
Trong buổi đối thoại giữa Chủ tịch UBND xã X với người dân về công tác chuyển đổi số, UBND xã thông tin đã triển khai nhiều nhiệm vụ như: Số hóa toàn bộ hồ sơ địa chính, hồ sơ hộ tịch đang lưu trữ bằng giấy; Xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung để kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các bộ phận chuyên môn; Tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng số cho cán bộ, công chức và người dân; Dự kiến thuê một doanh nghiệp công nghệ số xây dựng, vận hành và bảo trì hệ thống quản lý dữ liệu của xã. Sau khi nghe báo cáo, nhiều ý kiến được đưa ra:
1. Ý kiến thứ nhất cho rằng việc quét hồ sơ giấy thành bản điện tử chỉ là lưu trữ bằng máy tính, chưa thể coi là chuyển đổi số.
2. Ý kiến thứ hai cho rằng cơ sở dữ liệu của xã chỉ phục vụ nội bộ nên không phải là hoạt động chuyển đổi số.
3. Ý kiến thứ ba băn khoăn việc UBND xã thuê doanh nghiệp tư nhân xây dựng và vận hành hệ thống dữ liệu là không phù hợp vì dữ liệu nhà nước phải do cơ quan nhà nước trực tiếp quản lý.
Là công chức phụ trách chuyển đổi số của UBND xã, anh (chị) hãy giải thích và làm rõ các ý kiến trên theo quy định của Luật Chuyển đổi số năm 2025.
Trả lời:
1. Các hoạt động của UBND xã X có được coi là hoạt động chuyển đổi số không?
Qua các ý kiến nêu trên có thể thấy còn có cách hiểu chưa đầy đủ về phạm vi hoạt động chuyển đổi số.
Theo Điều 4 Luật Chuyển đổi số năm 2025: Hoạt động chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ thông tin trong công việc mà bao gồm nhiều hoạt động như xây dựng thể chế, phát triển hạ tầng số, dữ liệu số, số hóa thông tin, số hóa quy trình, phát triển nền tảng số, bảo đảm an toàn thông tin, đào tạo nhân lực số, truyền thông, thuê dịch vụ số và các hoạt động khác phục vụ chuyển đổi số.
Do đó, việc UBND xã triển khai số hóa hồ sơ, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, đào tạo kỹ năng số và tổ chức vận hành hệ thống số đều là các hoạt động chuyển đổi số được pháp luật quy định và khuyến khích thực hiện.
2. Việc số hóa hồ sơ giấy và xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung thuộc nhóm hoạt động nào?
Có ý kiến cho rằng việc quét hồ sơ giấy chỉ là lưu trữ điện tử nên chưa phải hoạt động chuyển đổi số. Nhận định này không phù hợp với quy định của pháp luật.
Theo khoản 4 Điều 4 Luật Chuyển đổi số năm 2025, hoạt động chuyển đổi số bao gồm: "Số hóa thông tin, dữ liệu, tài liệu; số hóa quy trình..." . Việc chuyển hồ sơ địa chính, hộ tịch từ bản giấy sang dữ liệu số chính là hoạt động số hóa dữ liệu, tạo nền tảng để khai thác, chia sẻ và sử dụng trên môi trường số. Đối với việc xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, khoản 3 Điều 4 quy định hoạt động chuyển đổi số bao gồm:Xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản trị, xử lý, sử dụng dữ liệu; điều phối, kết nối, chia sẻ, mở, giám sát, đánh giá, khai thác, kiểm toán, xếp hạng dữ liệu...
Như vậy, việc xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung để kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các bộ phận chuyên môn là hoạt động chuyển đổi số được Luật Chuyển đổi số ghi nhận.
3. UBND xã thuê doanh nghiệp công nghệ số thiết kế, vận hành hệ thống có đúng quy định không?
Một số người cho rằng hệ thống dữ liệu của cơ quan nhà nước phải do cán bộ, công chức trực tiếp xây dựng và vận hành, không được thuê doanh nghiệp bên ngoài.
Theo khoản 9 Điều 4 Luật Chuyển đổi số năm 2025, cơ quan, tổ chức được phép: Thuê chuyên gia, dịch vụ tư vấn, dịch vụ số, dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật và các dịch vụ khác phục vụ khảo sát, thiết kế, xây dựng, triển khai, vận hành, bảo trì, kiểm thử, kiểm toán, giám sát và đánh giá hoạt động chuyển đổi số.
Bên cạnh đó, khoản 10 Điều 4 Luật Chuyển đổi số năm 2025 còn quy định cơ quan nhà nước được:Thuê, khai thác và sử dụng hạ tầng chuyển đổi số, hệ thống số, nền tảng số, dịch vụ điện toán đám mây, dịch vụ dữ liệu và các dịch vụ số khác.
Như vậy, pháp luật không bắt buộc cơ quan nhà nước phải tự xây dựng và vận hành toàn bộ hệ thống số mà cho phép thuê doanh nghiệp có đủ năng lực thực hiện các công việc chuyên môn nhằm bảo đảm hiệu quả và chất lượng triển khai chuyển đổi số. Tuy nhiên, việc thuê doanh nghiệp phải thực hiện đúng quy định của pháp luật về đầu tư, đấu thầu, quản lý tài sản công, bảo vệ dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin và an ninh mạng.
Việc số hóa hồ sơ giấy, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, đào tạo kỹ năng số và triển khai hệ thống số đều là hoạt động chuyển đổi số theo Điều 4 Luật Chuyển đổi số năm 2025. Số hóa hồ sơ giấy thuộc nhóm hoạt động số hóa thông tin, dữ liệu, tài liệu và số hóa quy trình; xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung thuộc nhóm hoạt động xây dựng, phát triển, quản trị, kết nối và chia sẻ dữ liệu. Việc UBND xã thuê doanh nghiệp công nghệ số thiết kế, vận hành và bảo trì hệ thống số phù hợp với quy định của Luật Chuyển đổi số năm 2025, với điều kiện tuân thủ các quy định có liên quan về đầu tư, đấu thầu, bảo mật và an toàn thông tin.
Tình huống 3:
Sau hơn một năm triển khai hệ thống giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường số, UBND xã A nhận được nhiều phản ánh của người dân và doanh nghiệp về việc hệ thống thường xuyên chậm đưa vào sử dụng, nhiều hồ sơ vẫn phải tiếp nhận bằng giấy. Qua kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền phát hiện ông Nguyễn Văn B - công chức được giao quản trị hệ thống số của xã - đã thực hiện nhiều hành vi như: Cố ý kéo dài thời gian vận hành chính thức hệ thống để các bộ phận tiếp tục tiếp nhận và xử lý hồ sơ giấy; sử dụng quyền quản trị để truy cập, chỉnh sửa dữ liệu của một số tổ chức, cá nhân mà không được phép; sao chép dữ liệu thông tin công dân và cung cấp cho một doanh nghiệp quảng cáo nhằm hưởng lợi; gửi tin nhắn có gắn biểu tượng của cơ quan nhà nước kèm đường dẫn giả mạo, yêu cầu người dân xác thực tài khoản ngân hàng để "hoàn tất thủ tục hành chính"; chỉ đạo các bộ phận chuyên môn chỉ được sử dụng nền tảng số do doanh nghiệp của người thân mình cung cấp, không cho phép kết nối với các nền tảng khác mặc dù các nền tảng này đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định. Là công chức được giao tham mưu xử lý vụ việc, anh (chị) hãy xác định các hành vi của ông B có vi phạm Luật Chuyển đổi số năm 2025 hay không và căn cứ pháp lý để xử lý.
Trả lời: Theo quy định Điều 5 Luật Chuyển đổi số năm 2025 quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động chuyển đổi số. Đối chiếu với từng hành vi của ông B có thể xác định như sau:
1. Cản trở, phá hoại hoạt động chuyển đổi số; làm gián đoạn, đình trệ, gây mất an toàn cho hệ thống số của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
2. Truy cập, can thiệp trái phép, làm sai lệch, vô hiệu hóa, gây tổn hại đến hệ thống số, dữ liệu số, nền tảng số và dịch vụ số.
3. Thu thập, sử dụng, chia sẻ, mua, bán, khai thác dữ liệu số trái quy định của pháp luật.
4. Lợi dụng chuyển đổi số để lừa đảo, thao túng, trục lợi, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
5. Lợi dụng chức trách, quyền hạn để gây cản trở, phân biệt đối xử, tạo độc quyền, cát cứ, hạn chế cạnh tranh trong phát triển, vận hành, khai thác hệ thống số.
1. Cố tình trì hoãn đưa hệ thống số vào vận hành
Việc ông B cố ý không đưa hệ thống vào hoạt động mặc dù đã đủ điều kiện vận hành, làm cho các cơ quan tiếp tục xử lý hồ sơ bằng phương thức thủ công.
Đây là hành vi cản trở hoạt động chuyển đổi số, làm ảnh hưởng đến việc triển khai hệ thống số của cơ quan nhà nước và thuộc hành vi bị nghiêm cấm theo khoản 1 Điều 5 Luật Chuyển đổi số năm 2025.
2. Truy cập và chỉnh sửa dữ liệu khi không được phép
Người quản trị hệ thống chỉ được thực hiện quyền hạn trong phạm vi nhiệm vụ được giao. Việc tự ý truy cập, chỉnh sửa dữ liệu của tổ chức, cá nhân ngoài phạm vi được phép là hành vi truy cập, can thiệp trái phép vào hệ thống số và dữ liệu số, vi phạm khoản 2 Điều 5 Luật Chuyển đổi số năm 2025.
3. Sao chép và bán thông tin công dân
Việc ông B sao chép dữ liệu và bán cho doanh nghiệp quảng cáo nhằm thu lợi cá nhân là hành vi thu thập, sử dụng, chia sẻ, mua bán dữ liệu số trái quy định của pháp luật. Đây là một trong những hành vi bị nghiêm cấm theo khoản 3 Điều 5 Luật Chuyển đổi số năm 2025, đồng thời còn có thể vi phạm các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định pháp luật khác có liên quan.
4. Gửi đường dẫn giả mạo để lừa người dân
Ông B đã lợi dụng danh nghĩa cơ quan nhà nước để gửi đường dẫn giả nhằm chiếm đoạt thông tin tài khoản ngân hàng của người dân. Đây là hành vi lợi dụng hoạt động chuyển đổi số để lừa đảo, trục lợi, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thuộc hành vi bị nghiêm cấm theo khoản 4Điều 5 Luật Chuyển đổi số năm 2025. Tùy hậu quả xảy ra, hành vi này còn có thể bị xem xét xử lý theo quy định của pháp luật hình sự.
5. Ép buộc sử dụng nền tảng số của doanh nghiệp người thân
Các nền tảng khác đều đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật nhưng ông B vẫn chỉ đạo các đơn vị bắt buộc sử dụng nền tảng do doanh nghiệp của người thân cung cấp nhằm tạo lợi thế cho doanh nghiệp này. Đây là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tạo độc quyền, cát cứ, hạn chế cạnh tranh trong phát triển, vận hành và khai thác hệ thống số, thuộc hành vi bị nghiêm cấm theo khoản 5 Điều 5 Luật Chuyển đổi số năm 2025.
Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả gây ra, ông B có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử lý như kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính, bồi thường thiệt hại hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Tình huống 4:
Để thực hiện Đề án xây dựng chính quyền số, UBND xã A đưa vào vận hành Hệ thống giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường số. Sau một thời gian triển khai, tại Hội nghị đối thoại giữa chính quyền với Nhân dân đã xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau về việc thực hiện các nguyên tắc chuyển đổi số.
Theo báo cáo của UBND xã, hệ thống được thiết kế với giao diện đơn giản, hỗ trợ nhiều hình thức đăng nhập và có chức năng hướng dẫn trực tuyến để người dân dễ sử dụng. Những thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành được tự động chia sẻ để người dân không phải kê khai lại khi thực hiện thủ tục hành chính. Đồng thời, hệ thống được trang bị các giải pháp bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân; thử nghiệm ứng dụng trí tuệ nhân tạo để hướng dẫn người dân tra cứu thủ tục và kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ trước khi nộp. Đối với những trường hợp có sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo trong quá trình xử lý hồ sơ, công chức vẫn trực tiếp xem xét, quyết định và có trách nhiệm giải thích căn cứ giải quyết khi người dân yêu cầu. UBND xã cũng thường xuyên đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống để nâng cấp, hoàn thiện và tổ chức các lớp hướng dẫn sử dụng dịch vụ công trực tuyến cho người cao tuổi, người khuyết tật và người dân ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Là công chức phụ trách chuyển đổi số của UBND xã, anh (chị) hãy phân tích việc triển khai hệ thống của UBND xã A có bảo đảm các nguyên tắc chuyển đổi số theo Điều 6 Luật Chuyển đổi số năm 2025 hay không?
Trả lời:
Điều 6 Luật Chuyển đổi số năm 2025 quy định nguyên tắc chuyển đổi số
1. Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, lấy người sử dụng làm trung tâm, nâng cao chất lượng dịch vụ và tạo giá trị mới cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
2. Tăng cường kết nối, chia sẻ và sử dụng lại dữ liệu, khai báo một lần là mặc định để nâng cao hiệu quả quản lý, hạn chế trùng lặp, giảm thủ tục và nâng cao năng lực ra quyết định.
3. Bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư theo quy định của pháp luật; khuyến khích áp dụng các biện pháp tiên tiến để nâng cao mức độ an toàn.
4. Được triển khai linh hoạt, thích ứng với sự phát triển nhanh của công nghệ; khuyến khích thử nghiệm, ứng dụng công nghệ mới phù hợp với đặc thù từng lĩnh vực.
5. Bảo đảm tính bao trùm, tạo điều kiện để mọi tổ chức và cá nhân đều có cơ hội tiếp cận, sử dụng dịch vụ số thuận lợi, an toàn và hiệu quả.
6. Bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình đối với quyết định dựa trên công nghệ số nhằm nâng cao niềm tin của người sử dụng.
7. Khuyến khích gắn chuyển đổi số với hoạt động đo lường, đánh giá, giám sát và cải thiện liên tục để nâng cao hiệu quả triển khai và chất lượng dịch vụ.
8. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm tuân thủ các nguyên tắc chuyển đổi số. Nhà nước khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước áp dụng các nguyên tắc quy định tại Điều này trong hoạt động của mình.
Đối chiếu với quy định trên, có thể khẳng định việc triển khai hệ thống của UBND xã A cơ bản bảo đảm các nguyên tắc chuyển đổi số. Cụ thể:
1. Chỉ đưa thủ tục hành chính lên môi trường mạng đã được coi là thực hiện đầy đủ chuyển đổi số?
Theo khoản 1 Điều 6 Luật Chuyển đổi số quy định chuyển đổi số phải được thực hiện trên cơ sở lấy người sử dụng làm trung tâm, khai thác hiệu quả dữ liệu số, bảo đảm chất lượng dịch vụ, an toàn thông tin và cải tiến liên tục.
Trong tình huống này, UBND xã không chỉ cung cấp dịch vụ công trực tuyến mà còn: thiết kế hệ thống thân thiện với người sử dụng; kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu; bảo đảm an toàn thông tin; tổ chức hỗ trợ người dân; thường xuyên đánh giá, hoàn thiện hệ thống.
Những hoạt động này mới phản ánh đầy đủ việc thực hiện các nguyên tắc chuyển đổi số.
2. Việc chia sẻ dữ liệu để người dân không phải khai báo nhiều lần có phù hợp với nguyên tắc chuyển đổi số không?
Một trong những nguyên tắc của chuyển đổi số là kết nối, chia sẻ và sử dụng lại dữ liệu, hạn chế yêu cầu người dân cung cấp lại những thông tin mà cơ quan nhà nước đã có được quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật Chuyển đổi số năm 2025. Việc UBND xã khai thác dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành nhằm thực hiện nguyên tắc "khai báo một lần, sử dụng nhiều lần", góp phần giảm giấy tờ, thời gian và chi phí cho người dân.
3. Việc áp dụng trí tuệ nhân tạo có trái với quy định của pháp luật không?
Trí tuệ nhân tạo chỉ được sử dụng để hỗ trợ hướng dẫn người dân và hỗ trợ kiểm tra hồ sơ; việc quyết định giải quyết thủ tục hành chính vẫn do công chức thực hiện. Bên cạnh đó, mọi quyết định đều có thể giải thích căn cứ pháp lý và được kiểm tra bởi con người. Cách triển khai này phù hợp với nguyên tắc khuyến khích đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ số, đồng thời bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự kiểm soát của con người trong hoạt động của cơ quan nhà nước theo khoản 6 Điều 6 Luật Chuyển đổi số năm 2025.
4. Việc bảo vệ dữ liệu cá nhân có phải là nguyên tắc của chuyển đổi số không?
Theo khoản 3 Điều 6 Luật Chuyển đổi số năm 2025 yêu cầu hoạt động chuyển đổi số phải bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư của tổ chức, cá nhân. Do đó, việc UBND xã triển khai các giải pháp bảo mật để bảo vệ dữ liệu cá nhân là yêu cầu bắt buộc trong quá trình xây dựng và vận hành hệ thống số.
5. Việc thường xuyên đánh giá, nâng cấp hệ thống có cần thiết không?
Theo khoản 7 Điều 6 Luật Chuyển đổi số năm 2025 yêu cầu hoạt động chuyển đổi số phải được đo lường, giám sát, đánh giá và cải tiến thường xuyên nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và đáp ứng yêu cầu phát triển của công nghệ cũng như nhu cầu của người sử dụng.Việc UBND xã định kỳ đánh giá, nâng cấp hệ thống là phù hợp với nguyên tắc này.
Đối chiếu với Điều 6 Luật Chuyển đổi số năm 2025, việc triển khai hệ thống của UBND xã A đã bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của chuyển đổi số.
Tình huống 5:
UBND xã A được bố trí kinh phí xây dựng hệ thống thông tin phục vụ quản lý, điều hành và giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường số. Trong quá trình lập dự án, Ban Chỉ đạo chuyển đổi số của xã có nhiều ý kiến khác nhau về phương án thiết kế hệ thống. Theo phương án được đề xuất, xã sẽ sử dụng nền tảng số dùng chung của tỉnh thay vì đầu tư xây dựng phần mềm riêng; hệ thống phải kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành thông qua các tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất. Toàn bộ hệ thống được triển khai trên hạ tầng điện toán đám mây để dễ dàng mở rộng khi số lượng người sử dụng tăng. Đơn vị tư vấn cũng đề xuất ngay từ giai đoạn thiết kế phải tích hợp các giải pháp bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, phân quyền truy cập theo từng nhóm người sử dụng; dữ liệu của người dân chỉ thu thập một lần và được chia sẻ, sử dụng lại khi giải quyết thủ tục hành chính. Giao diện hệ thống được thiết kế đơn giản, dễ sử dụng, có chức năng hỗ trợ người cao tuổi, người khuyết tật; đồng thời hệ thống được xây dựng theo kiến trúc mô-đun để dễ dàng nâng cấp khi phát sinh yêu cầu mới.
Tuy nhiên, trong cuộc họp thẩm định dự án xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau: có ý kiến cho rằng xã nên xây dựng phần mềm riêng để chủ động quản lý, không cần sử dụng nền tảng số dùng chung của tỉnh; chỉ cần hệ thống hoạt động ổn định, còn việc kết nối với các cơ sở dữ liệu khác hoặc áp dụng nguyên tắc "khai báo một lần" là không cần thiết; các giải pháp bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân chỉ cần bổ sung sau khi hệ thống đưa vào vận hành để tiết kiệm chi phí đầu tư ban đầu; không cần thiết kế chức năng hỗ trợ người cao tuổi, người khuyết tật vì số lượng người sử dụng không nhiều.
Là công chức phụ trách chuyển đổi số của UBND xã, anh (chị) hãy xác định các ý kiến trên đúng hay sai và phân tích việc thiết kế, triển khai hệ thống của UBND xã A có phù hợp với các nguyên tắc về kiến trúc và thiết kế hệ thống số theo Điều 7 Luật Chuyển đổi số năm 2025 hay không.
Trả lời:
Điều 7 Luật Chuyển đổi số năm 2025 quy định nguyên tắc kiến trúc và thiết kế hệ thống số
“1. Được thiết kế theo hướng sử dụng nền tảng số và các thành phần dùng chung, thúc đẩy khả năng mở rộng, tích hợp và sử dụng lại để nâng cao hiệu quả đầu tư và hạn chế trùng lặp.
2. Bảo đảm khai thác hiệu quả hạ tầng điện toán đám mây và các công nghệ cho phép mở rộng linh hoạt theo nhu cầu, bảo đảm hiệu quả vận hành, an toàn và tối ưu chi phí.
3. Hỗ trợ kết nối và tích hợp ngay từ giai đoạn thiết kế, dựa trên chuẩn mở, kiến trúc mở và giao diện lập trình ứng dụng theo chuẩn để thuận lợi cho chia sẻ dữ liệu và liên thông giữa các hệ thống.
4. Bảo đảm an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu ngay từ giai đoạn thiết kế và phát triển; khuyến khích áp dụng các biện pháp bảo vệ tiên tiến phù hợp với rủi ro.
5. Lấy dữ liệu làm trung tâm; bảo đảm dữ liệu được thu thập, quản lý, chia sẻ và khai báo một lần là yêu cầu mặc định; sử dụng hiệu quả để nâng cao chất lượng ra quyết định, chất lượng dịch vụ.
6. Lấy người sử dụng làm trung tâm, bảo đảm thuận tiện, dễ tiếp cận, dễ sử dụng và phù hợp với nhiều nhóm đối tượng, đặc biệt là người yếu thế, các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương.
7. Bảo đảm linh hoạt, dễ nâng cấp và thích ứng với sự phát triển nhanh của công nghệ, khuyến khích áp dụng mô hình kiến trúc mô-đun, thành phần độc lập và công nghệ mới phù hợp.
8. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm tuân thủ các nguyên tắc thiết kế và kiến trúc hệ thống số. Nhà nước khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước áp dụng các nguyên tắc quy định tại Điều này trong hoạt động của mình.
9. Chính phủ quy định chi tiết Điều này phù hợp với yêu cầu quản lý và thực tiễn triển khai.
Đối chiếu với quy định trên, có thể khẳng định phương án thiết kế và triển khai hệ thống số của UBND xã A phù hợp với các nguyên tắc về kiến trúc và thiết kế hệ thống số. Các ý kiến tại cuộc họp cần được phân tích như sau:
1. Có nên xây dựng phần mềm riêng thay vì sử dụng nền tảng số dùng chung?
Theo khoản 1 Điều 7 quy định việc xây dựng hệ thống số phải ưu tiên sử dụng các nền tảng số, thành phần dùng chung, bảo đảm khả năng sử dụng lại, tích hợp và mở rộng nhằm tránh đầu tư trùng lặp, tiết kiệm ngân sách và nâng cao hiệu quả khai thác. Do đó, việc UBND xã lựa chọn nền tảng số dùng chung của tỉnh là phù hợp với nguyên tắc này.
2. Có cần kết nối, chia sẻ dữ liệu và thực hiện nguyên tắc "khai báo một lần" không?
Khoản 3 Điều 7 quy định việc xác định hệ thống số phải được thiết kế theo kiến trúc mở, có khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu với các hệ thống khác và lấy dữ liệu làm trung tâm. Việc kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành giúp dữ liệu được sử dụng lại, hạn chế yêu cầu người dân cung cấp nhiều lần cùng một thông tin, góp phần cải cách thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả quản lý.
3. Có cần tích hợp các giải pháp bảo đảm an toàn thông tin ngay từ giai đoạn thiết kế?
Khoản 4 Điều 7 quy định việc bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu phải được tích hợp ngay từ quá trình thiết kế, phát triển và triển khai hệ thống. Do đó, việc UBND xã yêu cầu đơn vị cung cấp tích hợp các giải pháp bảo mật, phân quyền truy cập và bảo vệ dữ liệu cá nhân ngay từ đầu là thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Đối chiếu với Điều 7 Luật Chuyển đổi số năm 2025, phương án thiết kế và triển khai hệ thống số của UBND xã A đã bảo đảm các nguyên tắc về kiến trúc và thiết kế hệ thống số. Vì vậy, các ý kiến cho rằng không cần sử dụng nền tảng dùng chung, không cần kết nối dữ liệu, có thể bổ sung bảo mật sau khi vận hành hoặc không cần quan tâm đến khả năng tiếp cận của mọi đối tượng sử dụng đều không phù hợp với các nguyên tắc về kiến trúc và thiết kế hệ thống số được quy định tại Điều 7 Luật Chuyển đổi số năm 2025.
Tình huống 6:
Để nâng cao chất lượng phục vụ người dân, xã A triển khai hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính và quản lý hồ sơ điện tử trên nền tảng số dùng chung của tỉnh. Trước khi đưa vào sử dụng, xã đã phối hợp với cơ quan chuyên môn thực hiện phân loại hệ thống theo cấp độ an toàn thông tin, xây dựng phương án bảo đảm an ninh mạng, sao lưu dữ liệu định kỳ và có kế hoạch khôi phục hoạt động khi xảy ra sự cố.
Hệ thống được thiết kế để kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo các tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất; mọi thao tác xử lý hồ sơ đều được ghi nhận và lưu trữ nhật ký nhằm phục vụ công tác kiểm tra, giám sát và giải trình khi cần thiết. Đồng thời, giao diện dịch vụ công được thiết kế đơn giản, dễ sử dụng, có chức năng hỗ trợ người cao tuổi, người khuyết tật và các đối tượng dễ bị tổn thương tiếp cận dịch vụ thuận lợi. Từ tình huống trên, anh/chị hãy xác định việc triển khai hệ thống số của xã A có đáp ứng các yêu cầu tối thiểu đối với hệ thống số theo quy định của Luật Chuyển đổi số năm 2025 hay không
Trả lời: Việc triển khai hệ thống số của xã A đáp ứng các yêu cầu tối thiểu theo quy định tại Điều 8 Luật Chuyển đổi số năm 2025:
1. Yêu cầu tối thiểu đối với hệ thống số được áp dụng bắt buộc đối với hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số của cơ quan nhà nước, hệ thống số phục vụ lợi ích công, dịch vụ số thiết yếu và hệ thống số của tổ chức, doanh nghiệp được cơ quan nhà nước giao cung cấp dịch vụ công.
Đối với hệ thống số của tổ chức, doanh nghiệp khác, Nhà nước khuyến khích áp dụng theo khả năng và nhu cầu.
2. Bảo đảm an ninh mạng theo cấp độ; có cơ chế giám sát, phát hiện, cảnh báo, ứng cứu và khôi phục hoạt động khi xảy ra sự cố.
3. Bảo đảm khả năng kết nối và chia sẻ dữ liệu theo chuẩn với các hệ thống khác; hỗ trợ giao diện lập trình ứng dụng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; sử dụng chuẩn dữ liệu quốc gia, chuẩn mở, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo quy định.
4. Dữ liệu được xử lý bởi hệ thống số phải được lưu trữ, sao lưu, bảo vệ và phục hồi theo phương án bảo đảm tính toàn vẹn, tính sẵn sàng và khả năng chống chịu sự cố; tuân thủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân và dữ liệu quan trọng, dữ liệu cốt lõi theo pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, pháp luật về dữ liệu.
5. Hệ thống số và dịch vụ số phải duy trì mức độ sẵn sàng hoạt động tối thiểu; có phương án dự phòng và chuyển đổi dự phòng để bảo đảm hoạt động thông suốt đối với hệ thống quan trọng hoặc dịch vụ thiết yếu.
6. Hệ thống số phải ghi nhận, lưu trữ và bảo vệ nhật ký hoạt động; bảo đảm khả năng kiểm tra, giám sát và truy vết phục vụ thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giải trình khi cần thiết.
7. Hệ thống số và dịch vụ số phải đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn, yêu cầu kỹ thuật về khả năng tiếp cận tối thiểu đối với người sử dụng, đặc biệt là người khuyết tật, người cao tuổi và các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương khác.
8. Hệ thống số được phân loại theo mức độ rủi ro, quan trọng, lĩnh vực, phạm vi ảnh hưởng và có lộ trình áp dụng yêu cầu tối thiểu theo quy định của Chính phủ.
Có thể thấy xã A đã tuân thủ các yêu cầu tối thiểu đối với hệ thống số theo quy định của Luật Chuyển đổi số năm 2025. Việc xây dựng hệ thống bảo đảm an toàn, ổn định, có khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu, bảo vệ thông tin và phục vụ người dân một cách thuận tiện đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, cải cách hành chính, tăng cường niềm tin của người dân đối với hoạt động của chính quyền số tại địa phương.
Tình huống 7:
Thực hiện chủ trương chuyển đổi số, xã A triển khai nhiều hoạt động nhằm giúp người dân tiếp cận và sử dụng các dịch vụ số. Xã đã phối hợp với cơ quan chuyên môn hướng dẫn người dân đăng ký danh tính điện tử, sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt và chữ ký số trong thực hiện thủ tục hành chính. Đồng thời, xã bố trí cán bộ hỗ trợ người cao tuổi, người khuyết tật và người dân ở các xóm vùng khó khăn sử dụng điện thoại thông minh, truy cập Internet và thực hiện các dịch vụ số thiết yếu.
Bên cạnh đó, xã công khai Kế hoạch chuyển đổi số trên Cổng thông tin điện tử và tại trụ sở để người dân, doanh nghiệp biết, tham gia góp ý và đăng ký cung cấp các giải pháp công nghệ số. Trong quá trình triển khai, xã ưu tiên sử dụng nền tảng số dùng chung của tỉnh và các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số do doanh nghiệp Việt Nam phát triển, đáp ứng yêu cầu kết nối, chia sẻ dữ liệu và phục vụ người dân. Căn cứ quy định tại Điều 9 Luật Chuyển đổi số năm 2025, hãy phân tích các hoạt động chuyển đổi số mà xã A đã triển khai và đánh giá việc triển khai đó đã phù hợp với chính sách của Nhà nước về chuyển đổi số hay chưa. Nêu rõ các chính sách đã được thực hiện và căn cứ pháp lý.
Trả lời:
Điều 9 Luật Chuyển đổi số năm 2025 quy định chính sách của Nhà nước về chuyển đổi số:
“1. Phát triển hạ tầng chuyển đổi số thống nhất, an toàn, tin cậy và có khả năng mở rộng, đáp ứng yêu cầu kết nối, chia sẻ và cung cấp dịch vụ số.
2. Thúc đẩy hình thành và phát triển dữ liệu số, bảo đảm khả năng truy cập, chia sẻ, sử dụng lại và khai thác dữ liệu số theo quy định của pháp luật.
3. Khuyến khích phát triển và sử dụng nền tảng số dùng chung, nền tảng số mở và các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số phục vụ quản trị, cung cấp dịch vụ và phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm khả năng tiếp cận và thụ hưởng bình đẳng trong chuyển đổi số, đặc biệt là trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, lao động, việc làm và an sinh xã hội.
4. Bảo đảm an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu trong hoạt động chuyển đổi số; phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trên môi trường số.
5. Khuyến khích đổi mới sáng tạo, thử nghiệm có kiểm soát và ứng dụng công nghệ số mới nhằm nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ và phát triển sản phẩm, dịch vụ số.
6. Thúc đẩy, hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh thực hiện chuyển đổi số; ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp hoạt động tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn.
7. Tăng cường quản lý, giám sát hoạt động của hệ thống số, nền tảng số, đặc biệt là nền tảng số trung gian có quy mô lớn, rất lớn nhằm bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, an toàn, minh bạch trên môi trường số.
8. Bảo đảm điều phối thống nhất giữa các Bộ, ngành, địa phương; hoàn thiện cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật phục vụ chuyển đổi số; tránh phân tán nguồn lực, trùng lặp hệ thống số, nền tảng số và dữ liệu số.
9. Thu hút, trọng dụng nhân tài, nhân lực chất lượng cao; phổ cập, phát triển năng lực số cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân; bảo đảm khả năng triển khai, vận hành và thụ hưởng lợi ích từ chuyển đổi số an toàn, bền vững; hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, chuyển đổi nghề nghiệp đối với lực lượng lao động bị ảnh hưởng hoặc mất việc làm do quá trình chuyển đổi số.
10. Phát triển công dân số, thúc đẩy các điều kiện tiếp cận, sử dụng công bằng dịch vụ số cơ bản, tối thiểu bao gồm danh tính điện tử, năng lực số cơ bản, chứng thư chữ ký số theo pháp luật về giao dịch điện tử, dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ viễn thông cơ bản theo pháp luật về viễn thông, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt theo pháp luật về ngân hàng.
11. Hỗ trợ phát triển hạ tầng chuyển đổi số, thu hẹp khoảng cách số; hỗ trợ tiếp cận, khai thác, sử dụng hiệu quả hạ tầng chuyển đổi số, thiết bị công nghệ số, năng lực số; nâng cao năng lực tiếp cận thông tin, tri thức chuyển đổi số cho người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em, người dân sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, các nhóm dễ bị tổn thương khác trong xã hội theo quy định của pháp luật.
12. Cơ quan nhà nước công khai, minh bạch các kế hoạch chuyển đổi số ngay sau khi phê duyệt để tạo cơ hội cho các thành phần kinh tế tham gia thị trường chuyển đổi số; khuyến khích sử dụng sản phẩm, dịch vụ công nghệ số do doanh nghiệp Việt Nam sản xuất, làm chủ công nghệ; thực hiện cơ chế Nhà nước đặt hàng doanh nghiệp công nghệ số nghiên cứu, giải quyết các nhiệm vụ quan trọng của quốc gia.
Các hoạt động của xã A phù hợp với chính sách của Nhà nước về chuyển đổi số được quy định tại Điều 9 Luật Chuyển đổi số năm 2025, cụ thể:
- Góp phần phát triển hạ tầng chuyển đổi số thống nhất, an toàn, đáp ứng yêu cầu kết nối, chia sẻ dữ liệu và cung cấp dịch vụ số.
- Khuyến khích sử dụng nền tảng số dùng chung và các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số phục vụ quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công và phát triển kinh tế - xã hội.
- Hỗ trợ người dân hình thành các điều kiện của công dân số như sử dụng danh tính điện tử, dịch vụ công trực tuyến, chữ ký số, thanh toán không dùng tiền mặt và các dịch vụ số cơ bản.
- Quan tâm hỗ trợ người cao tuổi, người khuyết tật và người dân ở khu vực còn khó khăn tiếp cận thiết bị, kỹ năng số và dịch vụ số, góp phần thu hẹp khoảng cách số, bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội tham gia chuyển đổi số.
- Thực hiện công khai, minh bạch kế hoạch chuyển đổi số của địa phương, tạo điều kiện để doanh nghiệp và các thành phần kinh tế tham gia phát triển thị trường chuyển đổi số.
- Ưu tiên sử dụng các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số do doanh nghiệp Việt Nam phát triển, góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp công nghệ số trong nước.
Có thể thấy xã A đã triển khai hiệu quả các chính sách của Nhà nước về chuyển đổi số theo quy định của Luật Chuyển đổi số năm 2025. Việc phát triển hạ tầng số, thúc đẩy hình thành công dân số, hỗ trợ các nhóm yếu thế tiếp cận dịch vụ số, công khai kế hoạch chuyển đổi số và ưu tiên sử dụng sản phẩm công nghệ số của doanh nghiệp Việt Nam đã góp phần nâng cao chất lượng phục vụ người dân, thúc đẩy cải cách hành chính, phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số tại địa phương.
Tình huống 8:
Ủy ban nhân dân tỉnh X xây dựng chương trình hợp tác quốc tế về chuyển đổi số nhằm nâng cao năng lực chính quyền số và phát triển kinh tế số trên địa bàn. Theo đó, tỉnh chủ động ký kết và tham gia các chương trình hợp tác với một số tổ chức quốc tế để trao đổi kinh nghiệm xây dựng chính quyền số, quản trị dữ liệu và bảo đảm an toàn thông tin. Tỉnh cũng cử cán bộ, công chức tham gia các khóa đào tạo ở nước ngoài và trực tuyến với chuyên gia quốc tế về kỹ năng số, phân tích dữ liệu và an ninh mạng. Đồng thời, tỉnh phối hợp với các đối tác nước ngoài hỗ trợ doanh nghiệp địa phương đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử quốc tế, mở rộng thị trường tiêu thụ.
Bên cạnh đó, tỉnh X tham gia các diễn đàn quốc tế về chuyển đổi số, đóng góp ý kiến xây dựng các sáng kiến hợp tác, đồng thời áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật có tính tương thích quốc tế trong triển khai các hệ thống thông tin tại địa phương. Từ tình huống trên, anh/chị hãy xác định những nội dung về hợp tác quốc tế trong chuyển đổi số đã được Ủy ban nhân dân tỉnh X thực hiện theo quy định của Điều 10 Luật Chuyển đổi số năm 2025 và đánh giá việc thực hiện đó có đúng quy định hay không?
Trả lời:
Điều 10 Luật Chuyển đổi số năm 2025 quy định hợp tác quốc tế về chuyển đổi số:
1. Nhà nước đẩy mạnh hợp tác song phương, đa phương với các quốc gia, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp toàn cầu trong lĩnh vực chuyển đổi số theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.
2. Hợp tác quốc tế về chuyển đổi số tập trung vào các hoạt động sau đây:
a) Trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ;
b) Thu hút đầu tư nước ngoài và mở rộng thị trường cho sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục vụ chuyển đổi số của Việt Nam; thúc đẩy, mở rộng thương mại điện tử;
c) Đào tạo, trao đổi chuyên gia; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực số;
d) Xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật có tính tương thích quốc tế;
đ) Tham gia tích cực các diễn đàn, sáng kiến và thiết lập khuôn khổ hợp tác quốc tế về chuyển đổi số.
Việc triển khai của Ủy ban nhân dân tỉnh X phù hợp với quy định về hợp tác quốc tế trong chuyển đổi số theo Điều 10 Luật Chuyển đổi số năm 2025, cụ thể:
- Tỉnh thực hiện trao đổi kinh nghiệm và chuyển giao công nghệ thông qua các chương trình hợp tác với tổ chức quốc tế nhằm nâng cao năng lực chuyển đổi số.
- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và trao đổi chuyên gia, góp phần phát triển nguồn nhân lực số chất lượng cao cho địa phương.
- Thúc đẩy thương mại điện tử và mở rộng thị trường quốc tế cho sản phẩm địa phương, góp phần phát triển kinh tế số.
- Áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật có tính tương thích quốc tế, bảo đảm khả năng kết nối, liên thông và hội nhập hệ thống số.
- Chủ động tham gia các diễn đàn, sáng kiến và khuôn khổ hợp tác quốc tế, thể hiện vai trò tích cực của địa phương trong tiến trình chuyển đổi số toàn cầu.
Có thể thấy tỉnh X đã thực hiện đúng định hướng hợp tác quốc tế về chuyển đổi số theo quy định của pháp luật. Việc chủ động hội nhập, tiếp thu công nghệ, phát triển nguồn nhân lực số và mở rộng thị trường quốc tế đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và tăng cường vị thế của địa phương trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia.
Tình huống 9:
Để thực hiện Chương trình chuyển đổi số của tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh A đã trực tiếp chỉ đạo xây dựng và ban hành kế hoạch chuyển đổi số hằng năm; giao nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ban, ngành và Ủy ban nhân dân cấp xã; thường xuyên chủ trì các cuộc họp kiểm điểm tiến độ thực hiện và chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh. Đồng thời, tỉnh ưu tiên bố trí kinh phí, đầu tư hạ tầng số, trang thiết bị công nghệ thông tin và tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Hằng năm, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo tổ chức kiểm tra việc thực hiện chuyển đổi số tại các cơ quan, đơn vị; yêu cầu tổng hợp, đánh giá kết quả và thực hiện chế độ báo cáo định kỳ theo quy định.
Căn cứ quy định Luật Chuyển đổi số năm 2025, anh/chị hãy xác định những trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước trong quản lý nhà nước về chuyển đổi số đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh A thực hiện trong tình huống. Việc thực hiện các trách nhiệm đó có phù hợp với quy định của pháp luật hay không?
Trả lời:
Tại khoản 5 Điều 15 Luật Chuyển đổi số năm 2025 quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước:
a) Trực tiếp chỉ đạo, tổ chức triển khai và chịu trách nhiệm về kết quả chuyển đổi số trong phạm vi ngành, lĩnh vực, địa bàn và cơ quan, đơn vị được phân công;
b) Ưu tiên nguồn lực, nhân lực và các điều kiện cần thiết để thực hiện chuyển đổi số hiệu quả;
c) Tổ chức kiểm tra nội bộ và báo cáo định kỳ về kết quả chuyển đổi số theo quy định.
Việc thực hiện của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh A phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 15 Luật Chuyển đổi số năm 2025 về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước trong quản lý nhà nước về chuyển đổi số, cụ thể:
- Trực tiếp chỉ đạo, tổ chức triển khai và chịu trách nhiệm về kết quả chuyển đổi số trong phạm vi địa bàn được phân công thông qua việc ban hành kế hoạch, phân công nhiệm vụ và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện.
- Ưu tiên bố trí nguồn lực, nhân lực và các điều kiện cần thiết để triển khai chuyển đổi số hiệu quả, bao gồm đầu tư hạ tầng số, trang thiết bị công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và bảo đảm kinh phí thực hiện.
- Tổ chức kiểm tra nội bộ và thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về kết quả chuyển đổi số theo quy định, qua đó kịp thời đánh giá hiệu quả triển khai, phát hiện hạn chế và đề ra giải pháp khắc phục.
Có thể thấy người đứng đầu cơ quan nhà nước giữ vai trò quyết định trong việc tổ chức và chỉ đạo thực hiện chuyển đổi số. Việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh A trực tiếp chỉ đạo, ưu tiên nguồn lực, thường xuyên kiểm tra và thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm các mục tiêu chuyển đổi số được triển khai đồng bộ, hiệu quả và đúng quy định của Luật Chuyển đổi số năm 2025.
Tình huống 10:
Công ty A là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công nghệ số cho các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh. Trong quá trình hoạt động, công ty đã ban hành quy chế quản lý, khai thác và bảo vệ dữ liệu; thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân của khách hàng và thường xuyên kiểm tra, đánh giá nguy cơ mất an toàn thông tin đối với hệ thống số do mình quản lý. Khi cung cấp dịch vụ, công ty yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin để thực hiện giao dịch điện tử, đồng thời cập nhật kịp thời khi có thay đổi. Trong quá trình triển khai các dịch vụ số, công ty phối hợp với cơ quan nhà nước để xác thực thông tin, chia sẻ dữ liệu theo quy định và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Là người có thẩm quyền đánh giá việc chấp hành pháp luật về chuyển đổi số, anh/chị sẽ xác định những trách nhiệm nào của tổ chức trong chuyển đổi số mà Công ty A đã thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật Chuyển đổi số năm 2025? Việc thực hiện của Công ty A có đúng quy định hay không?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 16 Luật Chuyển đổi số năm 2025 quy định về trách nhiệm của tổ chức trong chuyển đổi số:
a) Tuân thủ pháp luật về chuyển đổi số, an ninh mạng, giao dịch điện tử, bảo vệ dữ liệu cá nhân, trí tuệ nhân tạo và pháp luật khác có liên quan khi tham gia, cung cấp hoặc sử dụng hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, dữ liệu số và dịch vụ số;
b) Cung cấp, cập nhật và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, dữ liệu phục vụ giao dịch điện tử, dịch vụ số;
c) Bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và triển khai các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong quá trình ứng dụng công nghệ số và vận hành hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số của tổ chức;
d) Phối hợp với cơ quan nhà nước trong việc xác thực, chia sẻ dữ liệu số và thực hiện các nghĩa vụ khác phục vụ chuyển đổi số theo quy định của pháp luật;
đ) Thực hiện các nghĩa vụ khác có liên quan theo quy định của pháp luật.
Việc thực hiện của Công ty A phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật Chuyển đổi số năm 2025 về trách nhiệm của tổ chức trong chuyển đổi số, cụ thể:
- Tuân thủ các quy định của pháp luật về chuyển đổi số, an ninh mạng, giao dịch điện tử, bảo vệ dữ liệu cá nhân, trí tuệ nhân tạo và các quy định pháp luật có liên quan trong quá trình cung cấp và sử dụng hệ thống số, nền tảng số và dịch vụ số.
- Cung cấp, cập nhật và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, dữ liệu phục vụ giao dịch điện tử và cung cấp dịch vụ số.
- Bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và triển khai các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong quá trình vận hành hệ thống số, hệ thống thông tin và nền tảng số của doanh nghiệp.
- Phối hợp với cơ quan nhà nước trong việc xác thực, chia sẻ dữ liệu số và thực hiện các nghĩa vụ phục vụ chuyển đổi số theo đúng quy định của pháp luật.
- Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ khác có liên quan theo quy định của pháp luật trong quá trình tham gia hoạt động chuyển đổi số.
Có thể thấy Công ty A đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm của tổ chức khi tham gia chuyển đổi số theo quy định của Luật Chuyển đổi số năm 2025. Việc tuân thủ pháp luật, bảo đảm an toàn dữ liệu, cung cấp thông tin chính xác và phối hợp chặt chẽ với cơ quan nhà nước không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà còn bảo đảm môi trường số an toàn, minh bạch, tạo niềm tin cho người dân, doanh nghiệp và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số quốc gia.
Tình huống 11:
Anh Nguyễn Văn A thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh cho con thông qua Cổng dịch vụ công trực tuyến. Khi thực hiện thủ tục, anh kê khai đầy đủ, chính xác các thông tin theo yêu cầu và chịu trách nhiệm về nội dung đã cung cấp. Trong quá trình sử dụng tài khoản dịch vụ công, anh luôn bảo mật tên đăng nhập, mật khẩu, mã xác thực và không chia sẻ thông tin tài khoản cho người khác. Sau khi hoàn thành thủ tục, anh A tham gia đánh giá mức độ hài lòng và gửi ý kiến góp ý về giao diện, quy trình thực hiện để cơ quan có thẩm quyền tiếp tục cải thiện chất lượng dịch vụ công trực tuyến. Từ tình huống trên, anh/chị hãy xác định những trách nhiệm của cá nhân trong chuyển đổi số mà anh Nguyễn Văn A đã thực hiện theo khoản 2 Điều 16 Luật Chuyển đổi số năm 2025. Việc thực hiện các trách nhiệm đó có đúng quy định hay không?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 16 Luật Chuyển đổi số năm 2025 quy định trách nhiệm của cá nhân trong chuyển đổi số:
a) Tuân thủ pháp luật khi tham gia hoạt động trên môi trường số, sử dụng dịch vụ số, nền tảng số, hệ thống số, hệ thống thông tin;
b) Cung cấp thông tin, dữ liệu đầy đủ, chính xác và chịu trách nhiệm về nội dung đã cung cấp khi thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ số, giao dịch điện tử;
c) Bảo vệ thông tin tài khoản, dữ liệu cá nhân và thực hiện các biện pháp an toàn trong sử dụng dịch vụ số;
d) Tham gia góp ý, phản hồi, đánh giá để nâng cao chất lượng dịch vụ số.”
Việc thực hiện của anh Nguyễn Văn A phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 16 Luật Chuyển đổi số năm 2025 về trách nhiệm của cá nhân trong chuyển đổi số, cụ thể:
- Tuân thủ pháp luật khi tham gia hoạt động trên môi trường số, sử dụng dịch vụ công trực tuyến, hệ thống thông tin và các nền tảng số theo đúng quy định.
- Cung cấp thông tin, dữ liệu đầy đủ, chính xác và chịu trách nhiệm về nội dung đã cung cấp khi thực hiện thủ tục hành chính và giao dịch điện tử.
- Chủ động bảo vệ tài khoản và dữ liệu cá nhân, không chia sẻ thông tin đăng nhập, thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn khi sử dụng dịch vụ số nhằm phòng ngừa nguy cơ bị đánh cắp thông tin hoặc chiếm đoạt tài khoản.
- Tham gia góp ý, phản hồi và đánh giá chất lượng dịch vụ số, góp phần giúp cơ quan nhà nước cải tiến quy trình, nâng cao chất lượng phục vụ người dân.
Có thể thấy mỗi cá nhân không chỉ là người thụ hưởng các thành quả của chuyển đổi số mà còn có trách nhiệm tuân thủ pháp luật, cung cấp thông tin trung thực, bảo vệ dữ liệu cá nhân và tích cực tham gia đóng góp ý kiến trong quá trình sử dụng dịch vụ số. Việc thực hiện đầy đủ các trách nhiệm này góp phần xây dựng môi trường số an toàn, minh bạch, nâng cao chất lượng dịch vụ công và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia hiệu quả.
Tình huống 12:
Thực hiện Chương trình chuyển đổi số của tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh A đã chỉ đạo các sở, ban, ngành và Ủy ban nhân dân cấpxa, cấp xã triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao năng lực số cho cán bộ, công chức, viên chức và người dân. Theo đó, tỉnh tổ chức các lớp phổ cập kỹ năng số cơ bản cho người dân; mở các khóa đào tạo, bồi dưỡng về kỹ năng số, an toàn thông tin, khai thác dữ liệu và sử dụng nền tảng số cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo Khung năng lực số do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Đồng thời, các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh tăng cường giảng dạy kỹ năng số trong chương trình đào tạo theo quy định. Nhiều doanh nghiệp cũng chủ động tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cho người lao động; hướng dẫn người lao động sử dụng các phần mềm quản lý, thương mại điện tử và hỗ trợ đào tạo lại, chuyển đổi nghề nghiệp đối với những lao động có nguy cơ bị thay thế do ứng dụng công nghệ số. Việc Ủy ban nhân dân tỉnh A triển khai các hoạt động như phổ cập kỹ năng số cho người dân, đào tạo kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức, đưa nội dung kỹ năng số vào chương trình giáo dục và doanh nghiệp tổ chức đào tạo, hỗ trợ chuyển đổi nghề cho người lao động có phù hợp với quy định của pháp luật về chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực số hay không?
Trả lời:
Điều 17 Luật Chuyển đổi số năm 2025 quy định về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực số:
1. Năng lực số là nội dung bắt buộc trong các chương trình giáo dục, đào tạo theo quy định của pháp luật về giáo dục, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.
2. Cơ quan quản lý nhà nước về chuyển đổi số ban hành, cập nhật Khung năng lực số làm cơ sở cho các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, phân tích, tổng hợp thông tin về nguồn nhân lực số.
3. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức phổ cập năng lực số cơ bản phù hợp với Khung năng lực số cho các đối tượng phù hợp với ngành, lĩnh vực, địa bàn được phân công.
4. Cơ quan trong hệ thống chính trị có trách nhiệm tổ chức đào tạo, bồi dưỡng năng lực số theo Khung năng lực số, bảo đảm cán bộ, công chức, viên chức có đủ năng lực số cần thiết để triển khai chuyển đổi số.
5. Doanh nghiệp, tổ chức sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, phổ cập năng lực số cơ bản cho người lao động; đào tạo, hướng dẫn chuyển đổi nghề nghiệp, nâng cao năng lực số phù hợp nhu cầu thị trường cho người lao động có nguy cơ mất việc làm do chuyển đổi số.
Các hoạt động của tỉnh A phù hợp với quy định tại Điều 17 Luật Chuyển đổi số năm 2025 về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực số, cụ thể:
- Việc đưa nội dung năng lực số vào chương trình giáo dục, đào tạo tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn phù hợp với quy định về phát triển nguồn nhân lực số trong hệ thống giáo dục.
- Tổ chức phổ cập kỹ năng số cơ bản cho người dân và đào tạo, bồi dưỡng theo Khung năng lực số cho cán bộ, công chức, viên chức là trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số.
- Việc tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức góp phần bảo đảm nguồn nhân lực có đủ năng lực triển khai hiệu quả các nhiệm vụ chuyển đổi số trong cơ quan nhà nước.
- Doanh nghiệp chủ động đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số, nâng cao trình độ công nghệ và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động trong bối cảnh chuyển đổi số.
Có thể thấy tỉnh A đã triển khai đồng bộ các giải pháp đào tạo, phát triển nguồn nhân lực số theo quy định của Luật Chuyển đổi số năm 2025. Việc chú trọng phổ cập kỹ năng số cho người dân, nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động không chỉ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn tạo nền tảng quan trọng để thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số một cách bền vững.
Tình huống 13:
Để đẩy nhanh tiến độ xây dựng chính quyền số, Ủy ban nhân dân tỉnh A quyết định triển khai Đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về chuyển đổi số. Theo đó, tỉnh ban hành chính sách thu hút chuyên gia có trình độ cao trong lĩnh vực chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và an ninh mạng tham gia tư vấn, hỗ trợ xây dựng các hệ thống số của địa phương. Trong quá trình thực hiện, tỉnh ký hợp đồng thuê chuyên gia trong nước và chuyên gia nước ngoài theo từng nhiệm vụ cụ thể để tư vấn xây dựng kiến trúc chính quyền số, đào tạo cán bộ và hỗ trợ triển khai các nền tảng số dùng chung. Đồng thời, một doanh nghiệp nhà nước của tỉnh cũng hợp tác với các chuyên gia công nghệ nhằm nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp số phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, một số chuyên gia và tập thể có nhiều sáng kiến, giải pháp đổi mới sáng tạo, góp phần nâng cao hiệu quả chuyển đổi số của tỉnh đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh biểu dương, đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét khen thưởng theo quy định của pháp luật. Ủy ban nhân dân tỉnh A ban hành chính sách thu hút chuyên gia trong và ngoài nước, ký hợp đồng thuê chuyên gia theo từng nhiệm vụ để tư vấn, đào tạo và hỗ trợ triển khai chuyển đổi số; đồng thời doanh nghiệp nhà nước của tỉnh hợp tác với chuyên gia công nghệ để nghiên cứu, ứng dụng giải pháp số và việc biểu dương, đề nghị khen thưởng các cá nhân, tập thể có thành tích trong chuyển đổi số có phù hợp với quy định của pháp luật về thu hút, trọng dụng nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực chuyển đổi số hay không?
Trả lời:
Điều 18 Luật Chuyển đổi số năm 2025 quy định về thu hút, trọng dụng chuyên gia trong lĩnh vực chuyển đổi số như sau:
1. Nhà nước thực hiện cơ chế, chính sách đặc biệt nhằm thu hút, trọng dụng chuyên gia, nhân tài, nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực chuyển đổi số theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức, pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, pháp luật về công nghiệp công nghệ số và pháp luật khác có liên quan.
2. Cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước được phép thuê chuyên gia, cộng tác viên như sau:
a) Chủ động lựa chọn hình thức và thời hạn giao kết với các nhân sự và chuyên gia trong nước, nước ngoài;
b) Doanh nghiệp nhà nước được hợp tác, trao đổi, sử dụng chuyên gia và nhân sự phục vụ hoạt động chuyển đổi số.
3. Người có thành tích xuất sắc tiêu biểu trong chuyển đổi số được tôn vinh, khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.
Việc triển khai của tỉnh A và doanh nghiệp nhà nước phù hợp với quy định tại Điều 18 Luật Chuyển đổi số năm 2025 về thu hút, trọng dụng chuyên gia trong lĩnh vực chuyển đổi số, cụ thể:
- Tỉnh đã thực hiện chủ trương thu hút, trọng dụng chuyên gia, nhân tài và nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực chuyển đổi số nhằm phục vụ quá trình xây dựng chính quyền số, phát triển kinh tế số và xã hội số theo quy định của pháp luật.
- Cơ quan nhà nước được chủ động lựa chọn hình thức và thời hạn giao kết với các chuyên gia, cộng tác viên trong nước và nước ngoài để thực hiện các nhiệm vụ chuyển đổi số phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
- Doanh nghiệp nhà nước được hợp tác, trao đổi và sử dụng chuyên gia, nhân sự phục vụ hoạt động chuyển đổi số, góp phần nâng cao năng lực quản trị, đổi mới công nghệ và hiệu quả hoạt động.
- Việc tôn vinh, biểu dương và đề nghị khen thưởng các chuyên gia, tập thể có thành tích xuất sắc trong chuyển đổi số phù hợp với quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng, qua đó khuyến khích đổi mới sáng tạo và lan tỏa các mô hình, sáng kiến hiệu quả.
Có thể thấy tỉnh A đã vận dụng hiệu quả các chính sách thu hút, trọng dụng chuyên gia về chuyển đổi số theo quy định của Luật Chuyển đổi số năm 2025. Việc chủ động thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, hợp tác với các chuyên gia trong và ngoài nước, đồng thời kịp thời tôn vinh, khen thưởng những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số, đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Tình huống 14:
Nhằm nâng cao hiệu quả triển khai chuyển đổi số, Ủy ban nhân dân tỉnh A đã kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về chuyển đổi số và bố trí đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên trách về chuyển đổi số, an ninh mạng tại các sở, ban, ngành và địa phương. Đồng thời, tỉnh giao một số cán bộ có trình độ chuyên môn cao đảm nhiệm vị trí tổng công trình sư và kiến trúc sư trưởng về chuyển đổi số để tham mưu, chỉ đạo triển khai các hệ thống số dùng chung của tỉnh. Nhằm tạo động lực cho đội ngũ này, tỉnh thực hiện các chế độ đãi ngộ theo quy định, như bố trí điều kiện làm việc hiện đại, cử tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu trong và ngoài nước, thực hiện các chế độ tiền lương, phụ cấp theo quy định và khen thưởng kịp thời đối với những cá nhân có thành tích xuất sắc trong triển khai chuyển đổi số. Ủy ban nhân dân tỉnh A kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về chuyển đổi số, bố trí cán bộ chuyên trách, giao nhiệm vụ tổng công trình sư và kiến trúc sư trưởng về chuyển đổi số, đồng thời thực hiện các chế độ đãi ngộ như đào tạo, bồi dưỡng, bố trí điều kiện làm việc, trả lương, phụ cấp và khen thưởng có phù hợp với quy định của pháp luật về tổ chức bộ máy và chính sách đối với nhân lực làm công tác chuyển đổi số hay không?
Trả lời:
Điều 19 Luật Chuyển đổi số năm 2025 về ưu đãi đối với cán bộ, công chức, viên chức làm công tác chuyển đổi số quy định:
1. Cơ quan thuộc hệ thống chính trị thực hiện chế độ đãi ngộ đặc thù cho người làm công tác chuyển đổi số, bao gồm cán bộ, công chức, viên chức thuộc đơn vị được giao thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chuyển đổi số của các cơ quan ở Trung ương, tỉnh, thành phố; người làm công tác chuyên trách về chuyển đổi số, an ninh mạng trong cơ quan trong hệ thống chính trị; tổng công trình sư, kiến trúc sư trưởng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và các vị trí việc làm khác liên quan đến chuyển đổi số.
2. Các hình thức đãi ngộ bao gồm tiền lương, phụ cấp, điều kiện làm việc, cơ hội phát triển nghề nghiệp và các hình thức khen thưởng khác.
3. Chế độ, chính sách đãi ngộ cho đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Việc thực hiện của Ủy ban nhân dân tỉnh A phù hợp với quy định tại Điều 19 Luật Chuyển đổi số năm 2025 về ưu đãi đối với cán bộ, công chức, viên chức làm công tác chuyển đổi số, cụ thể:
- Cơ quan trong hệ thống chính trị thực hiện chế độ đãi ngộ đặc thù đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc đơn vị thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chuyển đổi số; người làm công tác chuyên trách về chuyển đổi số, an ninh mạng; tổng công trình sư, kiến trúc sư trưởng và các vị trí việc làm liên quan đến chuyển đổi số.
- Việc bố trí điều kiện làm việc, tạo cơ hội đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nghề nghiệp cho đội ngũ làm công tác chuyển đổi số là một trong những hình thức đãi ngộ được pháp luật khuyến khích nhằm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao.
- Thực hiện chế độ tiền lương, phụ cấp và khen thưởng theo quy định của pháp luật góp phần động viên, khuyến khích đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức yên tâm công tác, phát huy năng lực, sáng tạo và cống hiến trong quá trình triển khai chuyển đổi số.
Có thể thấy Ủy ban nhân dân tỉnh A đã quan tâm thực hiện đầy đủ các chính sách ưu đãi đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác chuyển đổi số theo quy định của Luật Chuyển đổi số năm 2025. Việc thực hiện tốt các chế độ đãi ngộ về tiền lương, phụ cấp, điều kiện làm việc, đào tạo, phát triển nghề nghiệp và khen thưởng không chỉ tạo động lực cho đội ngũ làm công tác chuyển đổi số mà còn góp phần thu hút, giữ chân nhân lực chất lượng cao, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số tại địa phương.
Tình huống 15:
Thực hiện Chương trình chuyển đổi số quốc gia, khi xây dựng dự toán ngân sách hằng năm, Ủy ban nhân dân tỉnh A đã bố trí kinh phí cho các nhiệm vụ chuyển đổi số như đầu tư hạ tầng số, xây dựng và nâng cấp hệ thống thông tin, nền tảng số dùng chung, cơ sở dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin, đào tạo nguồn nhân lực số và triển khai các dịch vụ công trực tuyến. Việc bố trí kinh phí được thực hiện trong tổng dự toán chi ngân sách cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo quy định; đồng thời ưu tiên tăng dần nguồn lực cho chuyển đổi số phù hợp với yêu cầu phát triển của địa phương. Đối với các nhiệm vụ chuyển đổi số phục vụ quốc phòng, an ninh, tỉnh thực hiện bố trí, quản lý và sử dụng kinh phí theo các quy định đặc thù của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Ủy ban nhân dân tỉnh A khi xây dựng dự toán ngân sách hằng năm đã bố trí và ưu tiên kinh phí cho các nhiệm vụ chuyển đổi số như phát triển hạ tầng số, nền tảng số, cơ sở dữ liệu, an toàn thông tin, đào tạo nhân lực số và dịch vụ công trực tuyến, đồng thời quản lý kinh phí cho nhiệm vụ chuyển đổi số trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh theo quy định đặc thù có phù hợp với quy định của pháp luật về bảo đảm nguồn lực tài chính cho chuyển đổi số hay không?
Trả lời:
Tại khoản 1 Điều 20 Luật Chuyển đổi số năm 2025 quy định nguồn tài chính cho chuyển đổi số:
“1. Nhà nước bảo đảm chi cho chuyển đổi số hằng năm tối thiểu 1% tổng chi ngân sách nhà nước từ nguồn tổng chi tối thiểu 3% ngân sách nhà nước cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số và tăng dần theo yêu cầu phát triển để thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ.
Nguồn ngân sách nhà nước bố trí cho chuyển đổi số phục vụ quốc phòng, an ninh được thực hiện theo quy định về một số nội dung đặc thù tại Luật Ngân sách nhà nước quy định của Luật này và được tổng hợp chung trong tổng chi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Việc bố trí nguồn tài chính của tỉnh A phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật Chuyển đổi số năm 2025, cụ thể:
- Nhà nước bảo đảm bố trí kinh phí cho chuyển đổi số hằng năm từ nguồn chi ngân sách nhà nước dành cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tỷ lệ tối thiểu do Luật quy định, đồng thời tăng dần theo yêu cầu phát triển trong từng giai đoạn.
- Việc ưu tiên bố trí kinh phí cho các nhiệm vụ như phát triển hạ tầng số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu, đào tạo nguồn nhân lực số và bảo đảm an toàn thông tin là phù hợp với mục tiêu thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.
- Đối với các nhiệm vụ chuyển đổi số phục vụ quốc phòng, an ninh, việc bố trí và quản lý nguồn ngân sách được thực hiện theo các quy định đặc thù của pháp luật về ngân sách nhà nước và được tổng hợp trong tổng chi cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Có thể thấy việc bảo đảm nguồn tài chính là điều kiện quan trọng để triển khai hiệu quả các nhiệm vụ chuyển đổi số. Việc Ủy ban nhân dân tỉnh A chủ động bố trí kinh phí theo đúng quy định của Luật Chuyển đổi số năm 2025 đã góp phần tạo nguồn lực ổn định cho đầu tư hạ tầng số, phát triển các nền tảng và dịch vụ số, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp và thúc đẩy phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số trên địa bàn.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thăm dò ý kiến

Bạn biết tới Cổng thông tin PBGDPL Thái Nguyên qua đâu ?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập485
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm484
  • Hôm nay162,627
  • Tháng hiện tại1,340,466
  • Tổng lượt truy cập36,374,421
Làm bài thi
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây