Tình huống 1: Chị B là cộng tác viên dân số của xã X, được Trạm Y tế giao một số lượng lớn bao cao su và thuốc tránh thai thuộc chương trình mục tiêu y tế - dân số để cung cấp miễn phí cho các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại địa phương. Thay vì phát miễn phí theo đúng danh sách được duyệt, chị B lại giữ lại một phần số bao cao su này để mang về tiệm tạp hóa nhỏ của gia đình mình kinh doanh với giá 10.000 đồng/hộp dù trên vỏ hộp có in chìm dòng chữ nhỏ: "Hàng cấp miễn phí, không được bán". Hành vi của chị B có bị xử phạt vi phạm hành chính không?
Trả lời:
Theo Nghị định số 90/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, hành vi bán bao cao su dù đã được cơ quan có thẩm quyền quy định là cấp miễn phí của chị B đã vi phạm các quy định về thực hiện kế hoạch hóa gia đình, cụ thể như sau:
Khoản 1 Điều 102 Nghị định số 90/2026/NĐ-CP quy định:
“1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi bán phương tiện tránh thai đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định là cung cấp miễn phí”.
Bên cạnh đó, khoản 3, khoản 4 Điều 102 Nghị định số 90/2026/NĐ-CP quy định về hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả:
“3. Hình thức xử phạt bổ sung:
Tịch thu tang vật vi phạm hành chính là phương tiện tránh thai đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều này”.
“4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc hoàn trả số tiền đã thu không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này. Trường hợp không hoàn trả được cho đối tượng thì nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật”.
Căn cứ các quy định trên, hành vi bán bao cao su dù đã được cơ quan có thẩm quyền quy định là cấp miễn phí của chị B sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với mức phạt từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Ngoài ra, còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu tang vật vi phạm hành chính là phương tiện tránh thai; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc hoàn trả số tiền đã thu không đúng quy định của pháp luật (trường hợp không hoàn trả được cho đối tượng thì nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật).
Tình huống 2. Khóa kín lối thoát nạn của nhà ở
Gia đình ông C sinh sống trong một căn nhà 3 tầng kết hợp kinh doanh tạp hóa. Để phòng chống trộm cắp, ông C lắp khung sắt kiên cố bao kín toàn bộ ban công và cửa sổ tầng hai nhưng không bố trí cửa mở hoặc cơ cấu mở khẩn cấp.
Khi được chính quyền địa phương tuyên truyền về việc cần bảo đảm lối thoát nạn, ông C cho rằng cửa chính của ngôi nhà vẫn sử dụng bình thường nên không cần tạo thêm lối thoát qua ban công hoặc cửa sổ.
Một thời gian sau, xảy ra sự cố cháy tại khu vực tầng 1. Khói và lửa nhanh chóng bao trùm cầu thang, các thành viên trong gia đình chạy lên tầng trên nhưng không thể thoát ra ngoài qua ban công do khung sắt bị khóa kín.
Hỏi: Trong tình huống trên, hộ gia đình của ông C cần thực hiện những yêu cầu gì để bảo đảm điều kiện thoát nạn khi xảy ra cháy?
Trả lời:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 20 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Nhà ở... phải bảo đảm các điều kiện về chữa cháy, thoát nạn sau đây:
b) Bố trí, duy trì lối thoát nạn, lối ra khẩn cấp hoặc lối đi bảo đảm việc thoát nạn."
Theo quy định của Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024, nhà ở và nhà ở kết hợp sản xuất, kinh doanh phải bảo đảm điều kiện thoát nạn khi xảy ra cháy. Trường hợp lắp đặt khung sắt, lưới sắt hoặc các kết cấu tương tự tại ban công, cửa sổ để bảo vệ tài sản thì phải bố trí cửa mở hoặc giải pháp mở khẩn cấp để bảo đảm người trong nhà có thể thoát nạn và tạo điều kiện cho lực lượng cứu nạn, cứu hộ tiếp cận khi cần thiết.
Trong tình huống này, việc ông C lắp khung sắt bao kín ban công và cửa sổ tầng hai nhưng không bố trí cửa mở hoặc cơ cấu mở khẩn cấp đã làm mất lối thoát nạn khi xảy ra cháy. Khi lửa và khói bao trùm cầu thang, các thành viên trong gia đình không thể thoát ra ngoài qua ban công, làm gia tăng nguy cơ thiệt hại về người.
Để bảo đảm an toàn, gia đình ông C cần cải tạo khung sắt theo hướng có cửa mở hoặc cơ cấu mở khẩn cấp, đồng thời thường xuyên kiểm tra khả năng sử dụng của lối thoát nạn, không khóa hoặc cản trở việc mở cửa trong trường hợp khẩn cấp.
Tình huống 3. Nhà ở tại khu vực có nguy cơ cao nhưng không trang bị bình chữa cháy
Gia đình bà D sinh sống trong một ngõ nhỏ trên địa bàn thành phố trực thuộc trung ương. Khu vực này có mặt đường hẹp, xe chữa cháy khó tiếp cận và không bảo đảm nguồn nước phục vụ chữa cháy theo quy định. Chính quyền địa phương đã thông báo, tuyên truyền và hướng dẫn các hộ dân thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy đối với khu vực có nguy cơ cao.
Tuy nhiên, bà D cho rằng gia đình luôn cẩn thận khi sử dụng điện và bếp đun nên không cần trang bị bình chữa cháy, chờ khi có điều kiện mới mua sau.
Hỏi: Trong tình huống trên, hộ gia đình bà D cần thực hiện những biện pháp gì để bảo đảm an toàn về phòng cháy, chữa cháy?
Trả lời:
Căn cứ khoản 5 Điều 20 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Đối với nhà ở tại thành phố trực thuộc trung ương thuộc khu vực không bảo đảm hạ tầng giao thông hoặc nguồn nước phục vụ chữa cháy theo quy định của pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật trong hoạt động phòng cháy, chữa cháy thì phải trang bị bình chữa cháy, thiết bị truyền tin báo cháy kết nối với hệ thống Cơ sở dữ liệu về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và truyền tin báo cháy theo lộ trình do Chính phủ quy định."
Theo quy định của Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024, đối với nhà ở tại khu vực không bảo đảm nguồn nước chữa cháy, đường giao thông phục vụ chữa cháy hoặc khu vực có nguy cơ cháy, nổ cao, chủ hộ gia đình có trách nhiệm thực hiện các biện pháp tăng cường bảo đảm an toàn về phòng cháy, chữa cháy theo hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền. Trong đó, phải trang bị bình chữa cháy và các phương tiện chữa cháy ban đầu phù hợp để kịp thời xử lý khi mới phát sinh cháy.
Trong tình huống này, mặc dù gia đình bà D sử dụng điện và bếp đun cẩn thận, nhưng việc sinh sống tại khu vực có đường giao thông hẹp, xe chữa cháy khó tiếp cận và không bảo đảm nguồn nước chữa cháy làm tăng nguy cơ thiệt hại nếu xảy ra sự cố. Vì vậy, hộ gia đình cần chủ động trang bị bình chữa cháy và các phương tiện chữa cháy phù hợp, đồng thời thực hiện đầy đủ các hướng dẫn của chính quyền địa phương về phòng cháy, chữa cháy để nâng cao khả năng xử lý sự cố ngay từ ban đầu.
Do đó, gia đình bà D phải trang bị bình chữa cháy; đồng thời thực hiện việc trang bị thiết bị truyền tin báo cháy kết nối với hệ thống Cơ sở dữ liệu về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và truyền tin báo cháy theo quy định.
Tình huống 4. Chủ nhà đề nghị hướng dẫn kết nối thiết bị truyền tin báo cháy
Gia đình ông E sinh sống tại khu vực thuộc diện phải trang bị thiết bị truyền tin báo cháy theo quy định. Sau khi lắp đặt thiết bị, ông E đến Công an cấp xã đề nghị được hướng dẫn cách kết nối thiết bị với hệ thống Cơ sở dữ liệu về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và truyền tin báo cháy để bảo đảm thiết bị hoạt động đúng yêu cầu.
Tuy nhiên, do chưa nắm rõ quy định, ông E băn khoăn không biết việc hướng dẫn kết nối thiết bị có thuộc trách nhiệm của lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ hay người dân phải tự thực hiện.
Hỏi: Trong trường hợp này, ông E có thể đề nghị cơ quan nào hướng dẫn việc kết nối thiết bị truyền tin báo cháy?
Trả lời:
Căn cứ khoản 6 Điều 20 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ có trách nhiệm hướng dẫn việc kết nối thiết bị truyền tin báo cháy với hệ thống Cơ sở dữ liệu về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và truyền tin báo cháy khi có yêu cầu."
Theo quy định của Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024, lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ có trách nhiệm hướng dẫn việc kết nối thiết bị truyền tin báo cháy với Hệ thống Cơ sở dữ liệu về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và truyền tin báo cháy theo quy định.
Trong tình huống này, sau khi lắp đặt thiết bị truyền tin báo cháy, ông E có thể đề nghị cơ quan Công an có thẩm quyền hướng dẫn việc kết nối để thiết bị hoạt động đúng yêu cầu. Việc hướng dẫn kết nối không phải do người dân tự tìm hiểu và thực hiện hoàn toàn mà thuộc trách nhiệm hướng dẫn của lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ theo quy định của pháp luật.
Tình huống 5. Nhà ở kết hợp kinh doanh không có biển cấm, biển báo về phòng cháy, chữa cháy
Gia đình bà H sử dụng tầng 1 của ngôi nhà để kinh doanh tạp hóa, các tầng trên làm nơi sinh hoạt. Cửa hàng bày bán nhiều mặt hàng dễ cháy như giấy, nhựa, cồn sát khuẩn và các loại hóa chất tẩy rửa. Qua kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền phát hiện tại cửa hàng không có biển cấm hút thuốc, biển báo và biển chỉ dẫn về phòng cháy, chữa cháy theo quy định.
Làm việc với đoàn kiểm tra, bà H cho rằng cửa hàng chỉ có người thân trong gia đình trực tiếp bán hàng, khách đến mua không nhiều nên việc lắp đặt các biển cấm, biển báo là không cần thiết.
Hỏi: Trong tình huống trên, cửa hàng của bà H phải bố trí những biển báo gì?
Trả lời:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 21 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Nhà ở kết hợp sản xuất, kinh doanh phải bảo đảm các điều kiện an toàn về phòng cháy sau đây:
...
b) Có biển cấm, biển báo, biển chỉ dẫn theo quy định."
Theo quy định của Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024, cơ sở thuộc diện phải bảo đảm điều kiện an toàn về phòng cháy, chữa cháy có trách nhiệm lắp đặt đầy đủ biển cấm, biển báo, biển chỉ dẫn về phòng cháy, chữa cháy phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động của cơ sở để cảnh báo nguy cơ cháy, hướng dẫn phòng ngừa và hỗ trợ xử lý khi xảy ra sự cố.
Trong tình huống này, mặc dù cửa hàng của bà H chủ yếu do người thân trong gia đình trực tiếp bán hàng và lượng khách không nhiều, nhưng cơ sở kinh doanh có bày bán nhiều mặt hàng dễ cháy như giấy, nhựa, cồn sát khuẩn và các loại hóa chất tẩy rửa nên vẫn phải lắp đặt đầy đủ các biển cấm, biển báo và biển chỉ dẫn về phòng cháy, chữa cháy theo quy định. Đây là biện pháp góp phần nâng cao ý thức chấp hành các quy định về phòng cháy, chữa cháy và bảo đảm an toàn cho người, tài sản tại cơ sở.
Tình huống 6. Không ngăn cách khu vực kinh doanh với khu vực để ở
Ông K sử dụng tầng 1 của ngôi nhà để kinh doanh sơn, dung môi và một số vật liệu dễ cháy; tầng 2 là nơi sinh hoạt của gia đình. Để thuận tiện cho việc đi lại và trông coi cửa hàng, khu vực kinh doanh được bố trí thông với cầu thang lên tầng trên, không có vách ngăn hoặc giải pháp ngăn cháy với khu vực để ở.
Qua kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu khắc phục nhưng ông K cho rằng cửa hàng chỉ kinh doanh với số lượng nhỏ, hàng hóa được sắp xếp gọn gàng và đã trang bị bình chữa cháy nên không cần phải ngăn cách khu vực kinh doanh với nơi ở.
Hỏi: Trong trường hợp của ông K, khu vực kinh doanh và khu vực để ở cần được bố trí như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 21 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Nhà ở kết hợp sản xuất, kinh doanh phải bảo đảm các điều kiện an toàn về phòng cháy sau đây:
c) Khu vực sản xuất, kinh doanh hàng hóa có nguy cơ cháy, nổ phải có giải pháp ngăn cách hoặc ngăn cháy với khu vực để ở."
Trong tình huống này, ông K sử dụng tầng 1 để kinh doanh sơn, dung môi và các vật liệu dễ cháy nhưng bố trí thông với cầu thang lên tầng trên, không có vách ngăn hoặc giải pháp ngăn cháy với khu vực để ở. Việc hàng hóa được sắp xếp gọn gàng và đã trang bị bình chữa cháy không thay thế yêu cầu phải có giải pháp ngăn cách giữa khu vực kinh doanh và khu vực để ở theo quy định.
Do đó, ông K cần thực hiện các giải pháp ngăn cháy phù hợp giữa khu vực kinh doanh và khu vực sinh hoạt để bảo đảm an toàn cho các thành viên trong gia đình và hạn chế thiệt hại khi xảy ra cháy.
Tình huống 7. Bố trí chỗ ngủ trong cửa hàng kinh doanh gas
Gia đình ông M sử dụng tầng 1 của ngôi nhà để kinh doanh bình gas dân dụng, các tầng trên là nơi sinh hoạt của gia đình. Để thuận tiện trông coi cửa hàng và giao hàng cho khách vào sáng sớm, ông M bố trí một giường ngủ ngay trong khu vực trưng bày và lưu giữ bình gas, đồng thời thường xuyên nghỉ lại tại đây vào ban đêm.
Qua kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu di dời chỗ ngủ ra khỏi khu vực kinh doanh. Tuy nhiên, ông M cho rằng cửa hàng luôn được thông thoáng, bình gas được sắp xếp đúng quy cách và chưa từng xảy ra sự cố nên việc ngủ lại trong cửa hàng không ảnh hưởng đến an toàn phòng cháy, chữa cháy.
Hỏi: Trong tình huống trên, ông M cần thực hiện nội dung gì để bảo đảm điều kiện an toàn về phòng cháy đối với nhà ở kết hợp kinh doanh hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ?
Trả lời:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 21 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Nhà ở kết hợp sản xuất, kinh doanh hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ phải bảo đảm các điều kiện an toàn về phòng cháy sau đây:
...
b) Không bố trí chỗ ngủ trong khu vực sản xuất, kinh doanh."
Trong tình huống này, khu vực kinh doanh của ông M là nơi trưng bày và lưu giữ bình gas dân dụng - hàng hóa có nguy cơ cháy, nổ. Mặc dù ông M cho rằng cửa hàng được sắp xếp gọn gàng và chưa từng xảy ra sự cố, việc bố trí chỗ ngủ ngay trong khu vực kinh doanh vẫn không đáp ứng yêu cầu về an toàn phòng cháy theo quy định của Luật.
Do đó, ông M phải di dời chỗ ngủ ra khỏi khu vực kinh doanh bình gas, không bố trí nơi nghỉ, ngủ trong khu vực sản xuất, kinh doanh hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ nhằm bảo đảm an toàn cho người và tài sản khi xảy ra sự cố.
Tình huống 8. Nhà ở kết hợp kinh doanh xăng, dầu không bảo đảm các điều kiện an toàn về phòng cháy
Gia đình bà N sử dụng tầng 1 của ngôi nhà để kinh doanh xăng, dầu; tầng 2 và tầng 3 là nơi sinh hoạt của các thành viên trong gia đình. Để thuận tiện cho việc xuất, nhập hàng, khu vực kinh doanh được bố trí thông trực tiếp với cầu thang dẫn lên khu vực để ở - cũng là lối thoát nạn duy nhất của cả gia đình.
Qua kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền phát hiện cửa hàng không lắp đặt thiết bị phát hiện sự cố rò rỉ chất khí nguy hiểm về cháy, nổ; không có giải pháp thông gió phù hợp và không có giải pháp ngăn cháy giữa khu vực kinh doanh với lối thoát nạn của khu vực để ở.
Làm việc với đoàn kiểm tra, bà N cho rằng cửa hàng luôn mở cửa để thông thoáng, nhân viên thường xuyên kiểm tra các bồn chứa nên không cần lắp đặt thiết bị phát hiện rò rỉ hoặc thực hiện các giải pháp ngăn cháy riêng.
Hỏi: Trong tình huống trên, khu vực kinh doanh xăng, dầu của nhà bà N cần bảo đảm những yêu cầu gì để bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy?
Trả lời:
Căn cứ điểm c và điểm d khoản 2 Điều 21 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Nhà ở kết hợp sản xuất, kinh doanh hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ phải bảo đảm các điều kiện an toàn về phòng cháy sau đây:
c) Có phương tiện báo cháy, giải pháp thông gió, thiết bị phát hiện sự cố rò rỉ chất khí nguy hiểm về cháy, nổ phù hợp với công năng, đặc điểm của nhà ở kết hợp sản xuất, kinh doanh hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ;
d) Khu vực sản xuất, kinh doanh hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ phải được ngăn cháy với lối thoát nạn của khu vực để ở."
Trong tình huống này, gia đình bà N kinh doanh xăng, dầu là hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ nhưng không lắp đặt thiết bị phát hiện sự cố rò rỉ chất khí, không có giải pháp thông gió phù hợp và không ngăn cháy giữa khu vực kinh doanh với lối thoát nạn của khu vực để ở. Việc thường xuyên kiểm tra hoặc mở cửa thông thoáng không thay thế cho các điều kiện an toàn bắt buộc theo quy định của Luật.
Do đó, gia đình bà N phải trang bị phương tiện báo cháy, thiết bị phát hiện sự cố rò rỉ chất khí nguy hiểm về cháy, nổ, bố trí giải pháp thông gió phù hợp và thực hiện giải pháp ngăn cháy giữa khu vực kinh doanh với lối thoát nạn của khu vực để ở nhằm bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy.
Tình huống 9. Xe vận chuyển xăng, dầu không gắn biển cấm, biển báo theo quy định
Công ty TNHH An Phát sử dụng xe bồn để vận chuyển xăng, dầu đến các đại lý bán lẻ trên địa bàn tỉnh. Trong một đợt kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện xe bồn đang lưu thông nhưng không gắn biển cảnh báo hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ, biển cấm lửa và các biển chỉ dẫn theo quy định.
Làm việc với đoàn kiểm tra, đại diện công ty cho biết các biển báo đã bị hư hỏng trong quá trình sử dụng và chưa kịp thay thế. Do cho rằng lái xe đều được đào tạo về an toàn phòng cháy, chữa cháy và hàng hóa vận chuyển có đầy đủ hồ sơ nên công ty vẫn tiếp tục đưa phương tiện tham gia giao thông.
Hỏi: Công ty TNHH An Phát cần thực hiện những yêu cầu gì trước khi đưa xe bồn vận chuyển xăng, dầu tham gia giao thông?
Trả lời:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 22 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ vận tải hành khách, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ khi tham gia giao thông phải bảo đảm điều kiện an toàn về phòng cháy sau đây:
a) Có biển cấm, biển báo, biển chỉ dẫn theo quy định."
Trong tình huống này, xe bồn của Công ty TNHH An Phát vận chuyển xăng, dầu là phương tiện vận chuyển hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ nhưng không gắn đầy đủ biển cấm, biển báo và biển chỉ dẫn theo quy định. Việc biển báo bị hư hỏng hoặc lái xe đã được đào tạo về an toàn phòng cháy, chữa cháy không thay thế cho yêu cầu bắt buộc phải gắn đầy đủ các loại biển theo quy định trước khi phương tiện tham gia giao thông.
Do đó, Công ty TNHH An Phát phải gắn đầy đủ biển cấm, biển báo và biển chỉ dẫn theo quy định đối với xe vận chuyển hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ trước khi đưa phương tiện tham gia giao thông, nhằm bảo đảm an toàn cho người, phương tiện và các đối tượng tham gia giao thông khác.
Tình huống 10. Tự ý thay đổi thiết kế về phòng cháy và chữa cháy của xe khách sau khi hoán cải
Công ty Cổ phần Vận tải Hoàng Gia thực hiện hoán cải xe khách 45 chỗ thành xe phục vụ du lịch đường dài. Sau khi phương tiện được hoàn thành theo hồ sơ thiết kế, để tăng diện tích khoang hành lý và lắp đặt thêm tiện ích phục vụ hành khách, doanh nghiệp tự ý tháo bỏ một số hạng mục, thiết bị về phòng cháy và chữa cháy đã được bố trí theo thiết kế của phương tiện.
Trong đợt kiểm tra định kỳ, cơ quan có thẩm quyền phát hiện phương tiện không còn bảo đảm các yêu cầu về phòng cháy và chữa cháy theo hồ sơ thiết kế. Đại diện doanh nghiệp cho rằng việc thay đổi này không ảnh hưởng đến khả năng vận hành của xe và trên phương tiện vẫn có bình chữa cháy xách tay nên vẫn bảo đảm an toàn.
Hỏi: Sau khi hoán cải phương tiện, Công ty Cổ phần Vận tải Hoàng Gia cần bảo đảm những yêu cầu gì về phòng cháy và chữa cháy?
Trả lời:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 22 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ vận tải hành khách, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ khi tham gia giao thông phải bảo đảm điều kiện an toàn về phòng cháy sau đây:
b) Thực hiện các yêu cầu về phòng cháy và chữa cháy quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật này."
Theo quy định của Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024, phương tiện giao thông cơ giới sau khi được thiết kế, hoán cải phải bảo đảm duy trì đầy đủ các điều kiện an toàn về phòng cháy và chữa cháy theo hồ sơ thiết kế đã được phê duyệt. Tổ chức, cá nhân không được tự ý thay đổi, tháo bỏ hoặc làm ảnh hưởng đến các hạng mục, thiết bị phòng cháy và chữa cháy của phương tiện.
Trong tình huống này, Công ty Cổ phần Vận tải Hoàng Gia đã tự ý tháo bỏ một số hạng mục, thiết bị về phòng cháy và chữa cháy để mở rộng khoang hành lý và lắp đặt thêm tiện ích phục vụ hành khách. Việc trên xe vẫn trang bị bình chữa cháy xách tay chỉ là một trong những điều kiện bảo đảm an toàn phòng cháy và chữa cháy, không đủ để bảo đảm phương tiện đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo hồ sơ thiết kế đã được phê duyệt. Vì vậy, doanh nghiệp phải khôi phục các hạng mục, thiết bị phòng cháy và chữa cháy đã bị thay đổi, bảo đảm phương tiện đáp ứng đầy đủ các điều kiện an toàn trước khi đưa vào khai thác.
Tình huống 11. Đưa tàu chở khách vào hoạt động khi chưa xây dựng phương án chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ
Công ty Du lịch Hưng Thịnh đưa một tàu chở khách vào khai thác trên tuyến du lịch đường thủy nội địa với sức chứa hơn 100 hành khách. Trước khi hoạt động, doanh nghiệp đã trang bị bình chữa cháy, áo phao và các phương tiện cứu sinh theo quy định.
Trong quá trình kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền phát hiện doanh nghiệp chưa xây dựng phương án chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ đối với tàu. Đại diện công ty cho rằng phương tiện đã được trang bị đầy đủ phương tiện chữa cháy và thuyền viên đều có kinh nghiệm xử lý sự cố nên chưa cần xây dựng phương án riêng.
Hỏi: Trong tình huống trên, trước khi đưa tàu chở khách vào hoạt động, Công ty Du lịch Hưng Thịnh cần chuẩn bị những nội dung gì về chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ?
Trả lời:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 22 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Phương tiện giao thông đường sắt, phương tiện thủy nội địa, tàu biển vận tải hành khách, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ phải bảo đảm các điều kiện an toàn về phòng cháy sau đây:
...
d) Có phương án chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ."
Trong tình huống này, mặc dù doanh nghiệp đã trang bị các phương tiện chữa cháy và cứu sinh trên tàu, việc chưa xây dựng phương án chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ vẫn chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện an toàn về phòng cháy, chữa cháy theo quy định của Luật. Việc thuyền viên có kinh nghiệm hoặc phương tiện đã được trang bị không thay thế cho yêu cầu phải có phương án chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ.
Do đó, doanh nghiệp phải xây dựng phương án chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ đối với tàu chở khách theo quy định trước khi tiếp tục khai thác, sử dụng nhằm bảo đảm khả năng xử lý kịp thời khi xảy ra sự cố.
Vì vậy, trước khi đưa tàu vào khai thác, Công ty Du lịch Hưng Thịnh cần xây dựng và tổ chức thực hiện phương án chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ theo quy định nhằm bảo đảm an toàn cho hành khách, thuyền viên và phương tiện.
Tình huống 12. Đề nghị cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật khi chưa được chấp thuận kết quả nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy
Công ty TNHH Hải Nam đóng mới một tàu chuyên chở hóa chất thuộc diện phải thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy. Sau khi hoàn thành việc thi công và tự tổ chức nghiệm thu, doanh nghiệp đã nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường để kịp bàn giao phương tiện cho đối tác theo hợp đồng.
Trong quá trình xem xét hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền xác định tàu chưa có văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy của cơ quan quản lý chuyên ngành. Đại diện doanh nghiệp cho rằng phương tiện đã hoàn thành toàn bộ các hạng mục kỹ thuật, việc chờ văn bản chấp thuận chỉ là thủ tục hành chính nên đề nghị được cấp Giấy chứng nhận trước.
Hỏi:Trong tình huống trên, cơ quan có thẩm quyền giải quyết như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ khoản 3 Điều 22 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Phương tiện giao thông được sản xuất, lắp ráp, đóng mới, hoán cải thuộc diện phải thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy chỉ được cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường khi có văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy theo quy định."
Trong tình huống này, tàu chuyên chở hóa chất của Công ty TNHH Hải Nam chưa có văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy nên chưa đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường. Do đó, cơ quan có thẩm quyền chưa giải quyết việc cấp Giấy chứng nhận và hướng dẫn doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ theo quy định. Sau khi có văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy, cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét giải quyết theo trình tự, thủ tục hiện hành.
Do đó, doanh nghiệp phải hoàn thành việc nghiệm thu và được cơ quan quản lý chuyên ngành chấp thuận kết quả nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy trước khi phương tiện được cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường.
Tình huống 13. Không kịp thời khắc phục điều kiện an toàn về phòng cháy và chữa cháy trên tàu chở khách
Công ty Du lịch Biển Xanh khai thác tàu chở khách trên tuyến du lịch ven biển. Trong quá trình kiểm tra trước chuyến đi, thuyền trưởng phát hiện một số bình chữa cháy trên tàu đã hết hạn sử dụng và một số phương tiện phòng cháy, chữa cháy chưa được bảo dưỡng theo quy định. Tuy nhiên, để không ảnh hưởng đến lịch trình đã thông báo với hành khách, thuyền trưởng vẫn quyết định cho tàu xuất bến và sẽ thay thế các bình chữa cháy sau khi kết thúc chuyến đi.
Trong hành trình, xảy ra sự cố cháy tại khoang máy. Do một số bình chữa cháy không còn bảo đảm khả năng sử dụng, việc xử lý đám cháy ban đầu gặp nhiều khó khăn.
Hỏi:Trong tình huống trên, thuyền trưởng cần thực hiện trách nhiệm gì?
Trả lời:
Căn cứ khoản 5 Điều 22 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Chủ sở hữu, thuyền trưởng, trưởng tàu, người điều khiển phương tiện giao thông trong phạm vi quản lý có trách nhiệm bảo đảm an toàn về phòng cháy và chữa cháy trong quá trình hoạt động của phương tiện giao thông."
Trong tình huống này, thuyền trưởng đã phát hiện các phương tiện phòng cháy, chữa cháy trên tàu không còn bảo đảm điều kiện sử dụng nhưng không kịp thời khắc phục trước khi đưa phương tiện vào hoạt động. Việc vẫn cho tàu xuất bến khi các điều kiện an toàn về phòng cháy và chữa cháy chưa được bảo đảm đã làm tăng nguy cơ mất an toàn và gây khó khăn cho việc xử lý sự cố khi xảy ra cháy.
Do đó, thuyền trưởng có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra, kịp thời khắc phục và duy trì các điều kiện an toàn về phòng cháy và chữa cháy trong phạm vi quản lý của mình, bảo đảm phương tiện đáp ứng yêu cầu an toàn trong suốt quá trình hoạt động theo quy định của Luật.
Tình huống 14. Tiếp tục sử dụng hệ thống dây dẫn điện đã xuống cấp
Gia đình ông A sinh sống trong một ngôi nhà đã xây dựng nhiều năm. Qua quá trình sử dụng, hệ thống dây dẫn điện trong nhà xuất hiện nhiều đoạn bị bong tróc lớp vỏ cách điện, ổ cắm thường xuyên phát sinh tia lửa điện và có mùi khét khi sử dụng các thiết bị có công suất lớn.
Mặc dù đã được thợ điện khuyến cáo cần thay thế hệ thống dây dẫn để bảo đảm an toàn, ông A cho rằng dây điện vẫn sử dụng bình thường nên chưa sửa chữa nhằm tiết kiệm chi phí. Một thời gian sau, hệ thống điện bị chập, gây cháy tại phòng khách và làm hư hỏng nhiều tài sản trong nhà.
Hỏi:Trong tình huống trên, để bảo đảm an toàn về phòng cháy khi sử dụng điện trong nhà ở, ông A phải thực hiện những biện pháp gì?
Trả lời:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 24 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Việc lắp đặt, sử dụng dây dẫn điện, thiết bị điện trong nhà phải bảo đảm yêu cầu về an toàn điện theo quy định của pháp luật; thường xuyên kiểm tra, kịp thời sửa chữa, thay thế dây dẫn điện, thiết bị điện không bảo đảm an toàn về phòng cháy."
Trong tình huống này, ông A đã phát hiện hệ thống dây dẫn điện có dấu hiệu xuống cấp và được khuyến cáo sửa chữa, thay thế nhưng vẫn tiếp tục sử dụng. Việc không kịp thời khắc phục các hư hỏng của hệ thống điện không bảo đảm yêu cầu an toàn về phòng cháy, dẫn đến xảy ra sự cố cháy.
Do đó, ông A phải thường xuyên kiểm tra hệ thống dây dẫn điện, thiết bị điện; kịp thời sửa chữa hoặc thay thế các dây dẫn, thiết bị điện không còn bảo đảm an toàn nhằm phòng ngừa nguy cơ cháy, nổ theo quy định của Luật.
Tình huống 15. Sử dụng bộ sạc xe điện không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật
Anh B mua một bộ sạc xe máy điện trên mạng với giá rẻ, được người bán quảng cáo là "tương thích với mọi loại xe" nhưng không có thông tin về nguồn gốc, xuất xứ hoặc chứng nhận đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật. Mặc dù người thân khuyên nên sử dụng bộ sạc chính hãng, anh B vẫn dùng bộ sạc này để sạc xe trong nhà vào ban đêm.
Sau một thời gian sử dụng, bộ sạc xảy ra sự cố, phát sinh nhiệt lớn làm cháy xe máy điện và lan sang nhiều vật dụng trong khu vực để xe. Làm việc với cơ quan chức năng, anh B cho rằng bộ sạc vẫn hoạt động bình thường trước đó nên không nghĩ có thể gây cháy.
Hỏi: Qua tình huống trên, người sử dụng xe động cơ điện cần lưu ý những yêu cầu gì khi lựa chọn và sử dụng thiết bị sạc để bảo đảm an toàn về phòng cháy, chữa cháy?
Trả lời:
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 24 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Chỉ được sử dụng thiết bị sạc điện cho xe động cơ điện bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; nơi sạc điện cho xe động cơ điện trong nhà phải có giải pháp bảo đảm an toàn về phòng cháy..."
Trong trường hợp này, anh B đã sử dụng bộ sạc không rõ nguồn gốc, không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Việc thiết bị vẫn hoạt động trong một thời gian không đồng nghĩa với việc đáp ứng yêu cầu an toàn và không loại trừ nguy cơ phát sinh sự cố cháy, nổ.
Theo quy định của Luật, người sử dụng chỉ được sử dụng thiết bị sạc xe động cơ điện đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; đồng thời, nếu sạc xe trong nhà thì nơi sạc phải có giải pháp bảo đảm an toàn về phòng cháy. Việc tuân thủ các yêu cầu này góp phần hạn chế nguy cơ cháy, nổ và bảo vệ an toàn cho người, tài sản.
Tình huống 16. Sạc xe điện qua đêm không bảo đảm an toàn
Anh B sử dụng tầng 1 của ngôi nhà để kinh doanh tạp hóa, các tầng trên là nơi sinh hoạt của gia đình. Để tiện sử dụng, hằng ngày anh cắm sạc xe máy điện ngay trong khu vực kinh doanh, đặt xe sát chân cầu thang - cũng là lối thoát nạn chính của cả gia đình. Ban đêm, anh thường cắm sạc rồi đi ngủ, không kiểm tra hoặc theo dõi quá trình sạc.
Qua kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền nhận thấy khu vực sạc xe không được bố trí hợp lý, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến việc thoát nạn nếu xảy ra cháy. Tuy nhiên, anh B cho rằng nhiều năm nay vẫn sạc theo cách này và chưa từng xảy ra sự cố nên không cần thay đổi.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh B cần thực hiện những biện pháp gì để bảo đảm an toàn về phòng cháy khi sạc xe động cơ điện trong nhà?
Trả lời:
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 24 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"...Nơi sạc điện cho xe động cơ điện trong nhà phải có giải pháp bảo đảm an toàn về phòng cháy; khu vực sạc điện cho xe động cơ điện tập trung trong nhà còn phải có giải pháp ngăn cháy và trang bị phương tiện chữa cháy phù hợp, bảo đảm tiêu chuẩn."
Trong trường hợp này, anh B bố trí vị trí sạc xe ngay sát lối thoát nạn và để xe sạc trong thời gian dài mà không bảo đảm các giải pháp an toàn về phòng cháy. Việc trước đây chưa từng xảy ra sự cố không đồng nghĩa với việc cách bố trí này đáp ứng yêu cầu của pháp luật hoặc loại trừ nguy cơ cháy, nổ.
Vì vậy, anh B cần bố trí nơi sạc xe điện trong nhà bảo đảm các giải pháp an toàn về phòng cháy, không làm ảnh hưởng đến lối thoát nạn và sử dụng thiết bị sạc đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia theo quy định.
Tình huống 17. Lắp đặt thiết bị điện không phù hợp trong khu vực có nguy cơ cháy, nổ
Công ty C đầu tư xây dựng xưởng sản xuất sơn, trong đó có khu vực pha chế và lưu giữ dung môi dễ cháy. Để giảm chi phí đầu tư, doanh nghiệp lắp đặt công tắc, ổ cắm và một số thiết bị điện dân dụng thông thường thay vì sử dụng thiết bị điện chuyên dụng dành cho môi trường có nguy cơ cháy, nổ.
Trong đợt kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền phát hiện việc lắp đặt thiết bị điện không phù hợp với đặc điểm của khu vực sản xuất. Đại diện công ty cho rằng hệ thống điện vẫn hoạt động bình thường và chưa từng xảy ra sự cố nên chưa cần thay thế bằng thiết bị chuyên dụng.
Hỏi: Trong tình huống trên, cơ quan có thẩm quyền xử lý như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 24 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Thiết bị điện được sử dụng trong môi trường nguy hiểm về cháy, nổ phải là thiết bị chuyên dụng theo quy định của pháp luật."
Trong tình huống này, khu vực pha chế và lưu giữ dung môi của Công ty C là môi trường có nguy cơ cháy, nổ nhưng doanh nghiệp lại lắp đặt công tắc, ổ cắm và một số thiết bị điện dân dụng thông thường. Mặc dù hệ thống điện vẫn hoạt động và chưa xảy ra sự cố, việc bố trí thiết bị điện như trên chưa đáp ứng yêu cầu an toàn đối với môi trường nguy hiểm về cháy, nổ.
Do đó, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu Công ty C thay thế các thiết bị điện không phù hợp bằng thiết bị điện chuyên dụng theo quy định; khắc phục các tồn tại để bảo đảm điều kiện an toàn về phòng cháy, chữa cháy trước khi tiếp tục sử dụng khu vực sản xuất.
Tình huống 18. Không tư vấn thông số kỹ thuật của thiết bị điện khi bán hàng
Cửa hàng điện dân dụng của ông D kinh doanh nhiều loại dây dẫn điện, aptomat và ổ cắm phục vụ nhu cầu sinh hoạt. Anh H đến mua dây dẫn điện và aptomat để lắp đặt cho hệ thống điện của gia đình. Do muốn bán hàng nhanh, nhân viên cửa hàng chỉ giao sản phẩm theo yêu cầu mà không hỏi mục đích sử dụng, không tư vấn về công suất, thông số kỹ thuật hoặc khả năng chịu tải của thiết bị.
Sau khi lắp đặt, hệ thống điện của gia đình anh H thường xuyên bị quá tải, phát sinh sự cố chập điện. Khi làm việc với cơ quan chức năng, ông D cho rằng việc lựa chọn và sử dụng thiết bị là trách nhiệm của khách hàng nên cửa hàng không có nghĩa vụ tư vấn.
Hỏi: Cửa hàng của ông D có trách nhiệm gì khi bán sản phẩm, thiết bị điện cho khách hàng?
Trả lời:
Căn cứ khoản 3 Điều 24 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, thiết bị điện có trách nhiệm tư vấn, cung cấp thông tin về chất lượng, thông số kỹ thuật của sản phẩm, thiết bị điện phù hợp với mục đích sử dụng."
Trong tình huống này, khi anh H đến mua dây dẫn điện và aptomat để lắp đặt cho hệ thống điện của gia đình, cửa hàng của ông D chỉ giao sản phẩm theo yêu cầu mà không tìm hiểu mục đích sử dụng, không tư vấn về công suất, thông số kỹ thuật hoặc khả năng chịu tải của thiết bị. Việc này không bảo đảm thực hiện đầy đủ trách nhiệm của cơ sở kinh doanh theo quy định.
Do đó, theo quy định của pháp Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 cửa hàng của ông D cần tư vấn, cung cấp đầy đủ thông tin về chất lượng, thông số kỹ thuật của sản phẩm, thiết bị điện phù hợp với nhu cầu sử dụng của khách hàng, giúp khách hàng lựa chọn đúng thiết bị và sử dụng an toàn.
Tình huống 19. Đơn vị bán lẻ điện không thực hiện trách nhiệm hướng dẫn an toàn sử dụng điện
Đơn vị bán lẻ điện X thực hiện đấu nối điện sinh hoạt cho các hộ dân tại một khu dân cư mới. Trong quá trình ký hợp đồng và cấp điện, đơn vị chỉ thực hiện việc lắp đặt công tơ, đấu nối nguồn điện mà không tư vấn về cách lắp đặt hệ thống điện trong nhà, cũng không hướng dẫn các biện pháp bảo đảm an toàn khi sử dụng điện. Sau khi một số hộ dân phản ánh chưa được hướng dẫn về việc lựa chọn dây dẫn, thiết bị điện và cách sử dụng điện an toàn để phòng ngừa cháy, nổ. Đại diện đơn vị bán lẻ điện cho rằng nhiệm vụ của mình chỉ là cung cấp điện, còn việc hướng dẫn sử dụng điện là trách nhiệm của người sử dụng hoặc đơn vị thi công điện.
Hỏi: Trong trường hợp này, đơn vị bán lẻ điện có trách nhiệm gì khi đấu nối điện sinh hoạt cho hộ gia đình?
Trả lời:
Căn cứ điểm b khoản 1 và khoản 4 Điều 24 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Đơn vị bán lẻ điện khi đấu nối điện sinh hoạt phải tư vấn việc lắp đặt, sử dụng đối với hệ thống, thiết bị điện để bảo đảm an toàn về phòng cháy."
"Đơn vị bán lẻ điện có trách nhiệm tuyên truyền, hướng dẫn về bảo đảm an toàn sử dụng điện trong sinh hoạt, sản xuất và thực hiện các nhiệm vụ khác về an toàn sử dụng điện theo quy định của pháp luật về điện lực."
Trong tình huống này, đơn vị bán lẻ điện X chỉ thực hiện lắp đặt công tơ, đấu nối nguồn điện mà không tư vấn về việc lắp đặt hệ thống điện trong nhà, cũng không hướng dẫn người dân các biện pháp sử dụng điện an toàn. Việc cho rằng chỉ có trách nhiệm cung cấp điện là chưa đầy đủ, bởi pháp luật đã quy định rõ trách nhiệm của đơn vị bán lẻ điện trong việc tư vấn và hướng dẫn người sử dụng ngay khi thực hiện đấu nối điện sinh hoạt.
Vì vậy, đơn vị bán lẻ điện X cần thực hiện đầy đủ việc tư vấn lắp đặt hệ thống điện trong nhà và hướng dẫn các biện pháp sử dụng điện an toàn để góp phần phòng ngừa cháy, nổ, bảo đảm an toàn cho người dân.
Tình huống 20. Không tham gia chữa cháy khi có đủ điều kiện, khả năng
Khoảng 20 giờ, một xưởng sản xuất đồ gỗ trên địa bàn xã A bất ngờ xảy ra cháy. Anh B là người đầu tiên phát hiện đám cháy khi đang đi ngang qua và thấy ngọn lửa mới bùng phát ở khu vực chứa nguyên liệu. Xung quanh có nhiều người dân và một số bình chữa cháy xách tay của cơ sở vẫn có thể sử dụng.
Tuy nhiên, anh B không báo cháy, cũng không cùng những người xung quanh sử dụng bình chữa cháy để khống chế đám cháy ban đầu mà cho rằng việc chữa cháy là trách nhiệm của lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ nên chỉ đứng chờ lực lượng chuyên nghiệp đến hiện trường. Do không được xử lý kịp thời, đám cháy nhanh chóng lan rộng, gây thiệt hại lớn về tài sản.
Hỏi: Trong trường hợp này, khi phát hiện đám cháy mới bùng phát, anh B cần xử lý như thế nào?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 25 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Người phát hiện cháy, cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gần nơi xảy ra cháy có trách nhiệm tham gia chữa cháy trong điều kiện, khả năng cho phép."
Theo quy định trên, khi phát hiện xảy ra cháy, người phát hiện cháy và những người ở gần nơi xảy ra cháy không chỉ có trách nhiệm báo cháy mà còn phải chủ động tham gia chữa cháy trong phạm vi điều kiện, khả năng của mình nhằm khống chế đám cháy, hạn chế thiệt hại về người và tài sản.
Trong tình huống trên, anh B là người đầu tiên phát hiện đám cháy và cùng những người có mặt tại hiện trường đều có điều kiện, khả năng tham gia chữa cháy ban đầu nhưng không thực hiện trách nhiệm của mình, chỉ chờ lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ đến xử lý. Việc cho rằng chữa cháy hoàn toàn là trách nhiệm của lực lượng chuyên nghiệp là không phù hợp với quy định của Luật.
Vì vậy, khi phát hiện cháy, người dân cần nhanh chóng báo cháy cho lực lượng có thẩm quyền, đồng thời sử dụng các phương tiện chữa cháy sẵn có và tham gia chữa cháy trong phạm vi điều kiện, khả năng của mình nhằm kịp thời khống chế đám cháy, hạn chế thiệt hại.
Tình huống 21. Từ chối đưa phương tiện tham gia chữa cháy theo yêu cầu huy động
Tại một khu công nghiệp trên địa bàn xã X xảy ra vụ cháy lớn, đám cháy có nguy cơ lan sang nhiều nhà xưởng lân cận. Để tạo đường ngăn cháy, người chỉ huy chữa cháy đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã huy động xe múc của Công ty A đang thi công công trình gần hiện trường.
Sau khi nhận được yêu cầu huy động, Giám đốc Công ty A không điều động phương tiện với lý do xe múc là tài sản có giá trị lớn, nếu tham gia chữa cháy có thể bị hư hỏng hoặc gián đoạn tiến độ thi công. Doanh nghiệp đề nghị chỉ hỗ trợ khi có cam kết bồi thường trước bằng văn bản.
Hỏi: Trong trường hợp này, Công ty A có phải chấp hành yêu cầu huy động phương tiện tham gia chữa cháy của cơ quan có thẩm quyền không?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 26 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Khi có cháy thì lực lượng, người, phương tiện, tài sản của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đều có thể được huy động để tham gia chữa cháy..."
Khoản 2 Điều 26 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khi được huy động tham gia chữa cháy có trách nhiệm bố trí ngay lực lượng, người, phương tiện, tài sản để tham gia chữa cháy."
Đồng thời, điểm a khoản 5 Điều 26 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp và người đứng đầu cơ quan, tổ chức được quyền huy động lực lượng, người, phương tiện, tài sản của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của mình."
Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 26 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
“Phương tiện, tài sản được huy động phải được hoàn trả ngay sau khi kết thúc chữa cháy; trường hợp bị mất, hư hỏng hoặc bị thiệt hại do việc huy động trực tiếp gây ra thì được bồi thường theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản”.
Trong tình huống trên, đám cháy có nguy cơ lan rộng nên việc huy động xe múc để tạo đường ngăn cháy là cần thiết nhằm phục vụ công tác chữa cháy. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã là người có thẩm quyền huy động phương tiện thuộc phạm vi quản lý để tham gia chữa cháy. Vì vậy, sau khi nhận được yêu cầu huy động, Công ty A có trách nhiệm điều động ngay phương tiện theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Việc Giám đốc Công ty A từ chối với lý do lo ngại phương tiện bị hư hỏng hoặc yêu cầu phải có cam kết bồi thường trước không làm phát sinh quyền từ chối thực hiện quyết định huy động. Pháp luật đã quy định rõ cơ chế hoàn trả phương tiện và bồi thường thiệt hại nếu việc huy động trực tiếp làm phương tiện bị mất, hư hỏng hoặc thiệt hại.
Do đó, Công ty A phải chấp hành việc huy động phương tiện tham gia chữa cháy. Trường hợp phương tiện bị thiệt hại do việc huy động trực tiếp gây ra thì quyền lợi của doanh nghiệp được bảo đảm thông qua cơ chế hoàn trả, bồi thường theo quy định của pháp luật, chứ không phải là căn cứ để từ chối thực hiện yêu cầu huy động.
Tình huống 22. Chiếm dụng bến lấy nước chữa cháy gây cản trở công tác chữa cháy
Gia đình ông A kinh doanh vật liệu xây dựng ven một hồ nước trong khu dân cư. Để thuận tiện cho việc buôn bán, ông A dựng mái che, tập kết cát, gạch và nhiều hàng hóa trên khu vực bến lấy nước chữa cháy đã được địa phương bố trí. Mặc dù đã được chính quyền địa phương nhắc nhở nhiều lần, ông A vẫn cho rằng đây là phần đất trước cửa nhà mình nên có quyền sử dụng.
Một thời gian sau, tại khu dân cư xảy ra cháy. Xe chữa cháy đến hiện trường nhưng không thể tiếp cận bến lấy nước do bị vật liệu xây dựng và hàng hóa che chắn, buộc lực lượng chữa cháy phải tìm nguồn nước khác ở xa hơn, làm chậm quá trình dập lửa.
Hỏi: Trong trường hợp này, việc chiếm dụng bến lấy nước chữa cháy của ông A sẽ được xử lý như thế nào?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 27 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
"Nguồn nước chữa cháy lấy từ trụ nước chữa cháy thuộc hệ thống cấp nước tập trung, hệ thống cấp nước chữa cháy, bồn, bể, ao, hồ, sông, suối, kênh hoặc nguồn nước sẵn có khác."
Khoản 3 Điều 27 Luật này quy định:
"Tại khu vực bồn, bể, ao, hồ, sông, suối, kênh trong đô thị, khu dân cư tập trung bố trí các điểm, bến để xe chữa cháy, máy bơm chữa cháy lấy nước phục vụ chữa cháy."
Theo quy định trên, các điểm, bến lấy nước chữa cháy được bố trí để bảo đảm lực lượng chữa cháy có thể tiếp cận và khai thác nguồn nước nhanh chóng khi xảy ra sự cố. Vì vậy, khu vực này phải luôn được giữ thông thoáng, không bị chiếm dụng hoặc cản trở.
Trong tình huống trên, việc ông A dựng mái che, tập kết vật liệu xây dựng và hàng hóa trên bến lấy nước chữa cháy đã làm xe chữa cháy không thể tiếp cận nguồn nước kịp thời, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả chữa cháy. Lý do cho rằng khu vực này nằm trước nhà nên được quyền sử dụng không làm thay đổi trách nhiệm phải bảo đảm điều kiện khai thác nguồn nước chữa cháy theo quy định của pháp luật.
Do đó, ông A phải chấm dứt việc chiếm dụng bến lấy nước chữa cháy, di dời toàn bộ vật liệu, hàng hóa ra khỏi khu vực này để bảo đảm điều kiện phục vụ chữa cháy. Trường hợp không chấp hành hoặc có hành vi cản trở hoạt động chữa cháy thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tình huống 23. Người đứng đầu cơ sở không tổ chức khắc phục hậu quả sau vụ cháy
Một vụ cháy xảy ra tại xưởng sản xuất của Công ty A làm nhiều máy móc bị hư hỏng, một số công nhân bị thương và phát sinh lượng lớn chất thải, phế liệu sau cháy. Sau khi đám cháy được khống chế, Giám đốc Công ty A cho rằng trách nhiệm khắc phục hậu quả thuộc cơ quan nhà nước và lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy nên chỉ đạo tạm dừng mọi hoạt động của công ty, không tổ chức đưa người bị thương đi cấp cứu, không phối hợp vệ sinh, xử lý môi trường và cũng không triển khai các biện pháp để khôi phục sản xuất.
Hỏi: Trong trường hợp này, Giám đốc Công ty A cần thực hiện những công việc gì sau khi vụ cháy được khống chế?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 29 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định việc khắc phục hậu quả vụ cháy bao gồm các hoạt động sau đây:
“a) Tổ chức cấp cứu ngay người bị nạn; cứu trợ, giúp đỡ người bị thiệt hại ổn định đời sống;
b) Thực hiện các biện pháp bảo đảm vệ sinh môi trường, trật tự, an toàn xã hội;
c) Phục hồi kịp thời hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các hoạt động khác”.
Khoản 2 Điều 29 Luật này quy định:
"Người đứng đầu cơ sở, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có cơ sở bị cháy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, chủ phương tiện giao thông có phương tiện bị cháy, chủ hộ gia đình có nhà bị cháy có trách nhiệm tổ chức thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này trong điều kiện, khả năng cho phép."
Theo quy định trên, sau khi đám cháy được khống chế, người đứng đầu cơ sở có trách nhiệm chủ động tổ chức thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả trong phạm vi điều kiện, khả năng của mình, bao gồm cấp cứu người bị nạn, bảo đảm vệ sinh môi trường, an toàn khu vực xảy ra cháy và sớm khôi phục hoạt động của cơ sở.
Trong tình huống này, Giám đốc Công ty A cho rằng toàn bộ trách nhiệm khắc phục hậu quả thuộc cơ quan nhà nước nên không tổ chức thực hiện các công việc cần thiết là không phù hợp với quy định của Luật. Lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy có nhiệm vụ chữa cháy và thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, không thay thế trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở trong việc tổ chức khắc phục hậu quả sau cháy.
Do đó, Giám đốc Công ty A phải chủ động tổ chức cấp cứu người bị thương, phối hợp xử lý môi trường, bảo đảm an toàn khu vực xảy ra cháy và triển khai các biện pháp khôi phục hoạt động sản xuất trong điều kiện, khả năng của doanh nghiệp theo quy định tại Điều 29 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024.
Tình huống 24. Tự ý thay đổi hiện trường và không cung cấp đầy đủ thông tin về vụ cháy
Một vụ cháy xảy ra tại cửa hàng kinh doanh điện máy của ông A làm nhiều hàng hóa và thiết bị bị hư hỏng. Sau khi đám cháy được lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ khống chế, ông A lo ngại việc phong tỏa hiện trường sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh nên chỉ đạo nhân viên thu dọn hiện trường, di chuyển các thiết bị và hàng hóa bị cháy sang khu vực khác trước khi cơ quan Công an đến khám nghiệm. Khi được yêu cầu làm việc, ông A cũng không cung cấp đầy đủ thông tin về thời điểm phát hiện cháy, tình trạng hệ thống điện và cho rằng nguyên nhân vụ cháy đã rõ nên không cần thiết phải cung cấp thêm thông tin.
Hỏi: Trong tình huống này, ông A phải thực hiện những trách nhiệm gì để phục vụ công tác điều tra vụ cháy?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 30 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ số 2024 quy định:
"Cơ quan Công an có trách nhiệm tổ chức bảo vệ hiện trường vụ cháy, khám nghiệm hiện trường vụ cháy, điều tra vụ cháy theo quy định của pháp luật."
Khoản 2 Điều 30 Luật này quy định:
"Cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nơi xảy ra cháy có trách nhiệm tham gia bảo vệ hiện trường vụ cháy, cung cấp thông tin xác thực về vụ cháy cho cơ quan Công an."
Theo quy định trên, sau khi vụ cháy được dập tắt, chủ cơ sở nơi xảy ra cháy có trách nhiệm phối hợp với cơ quan Công an trong việc bảo vệ hiện trường, không tự ý làm thay đổi hiện trạng vụ cháy và cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin liên quan để phục vụ công tác khám nghiệm, xác định nguyên nhân và điều tra vụ cháy.
Trong tình huống này, việc ông A tự ý chỉ đạo nhân viên thu dọn hiện trường, di chuyển tài sản trước khi cơ quan Công an tiến hành khám nghiệm, đồng thời không cung cấp đầy đủ thông tin theo yêu cầu, có thể làm ảnh hưởng đến việc xác định nguyên nhân vụ cháy và quá trình điều tra. Lý do muốn sớm mở cửa kinh doanh trở lại hoặc cho rằng nguyên nhân vụ cháy đã rõ không phải là căn cứ để không thực hiện các trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
Do đó, sau khi vụ cháy được dập tắt, ông A có trách nhiệm bảo vệ hiện trường trong phạm vi trách nhiệm của mình, phối hợp với cơ quan Công an và cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin liên quan đến vụ cháy để phục vụ công tác khám nghiệm, điều tra theo quy định tại Điều 30 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024.
Tình huống 25. Không tham gia cứu nạn, cứu hộ khi có đủ điều kiện, khả năng
Trong thời gian mưa lớn, một xe ô tô chở 5 người bị nước lũ cuốn xuống mương ven đường trên địa bàn xã A. Nhiều người dân ở gần hiện trường phát hiện vụ việc, trong đó anh B có thuyền máy và áo phao, hoàn toàn có khả năng tiếp cận khu vực xảy ra tai nạn để hỗ trợ cứu người.
Tuy nhiên, anh B cho rằng việc cứu nạn là nhiệm vụ của lực lượng Công an và lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ nên không tham gia hỗ trợ, cũng không thông báo cho cơ quan chức năng. Đến khi lực lượng cứu nạn, cứu hộ có mặt, việc tiếp cận hiện trường gặp nhiều khó khăn, làm ảnh hưởng đến công tác cứu người.
Hỏi: Khi phát hiện người gặp nạn trong tình huống trên, anh B cần xử lý như thế nào?
Trả lời:
Theo khoản 1 Điều 33 Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024 quy định:
“Người phát hiện tình huống cứu nạn, cứu hộ, cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gần nơi xảy ra cháy, tai nạn, sự cố có trách nhiệm tham gia cứu nạn, cứu hộ trong điều kiện, khả năng cho phép.”
Trong tình huống này, anh B là người có mặt gần hiện trường, có thuyền máy và áo phao, đủ điều kiện để hỗ trợ cứu người. Tuy nhiên, anh không tham gia cứu nạn, cứu hộ và cũng không thông báo cho cơ quan chức năng. Việc không thực hiện các biện pháp hỗ trợ trong khả năng của mình đã ảnh hưởng đến hiệu quả công tác cứu nạn, cứu hộ.
Vì vậy, khi phát hiện tình huống cần cứu nạn, cứu hộ, người dân cần nhanh chóng thông báo cho cơ quan có thẩm quyền và chủ động tham gia cứu nạn, cứu hộ trong phạm vi điều kiện, khả năng của mình nhằm góp phần bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người gặp nạn.
Tình huống 26: Kê khai không trung thực tài sản có giá trị đến 10 tỷ đồng
Ông L là Phó Giám đốc đơn vị sự nghiệp thuộc Sở N, thuộc đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng. Đến kỳ kê khai tài sản, thu nhập hằng năm, ông L đã nộp bản kê khai theo quy định. Tuy nhiên, trong quá trình kiểm soát tài sản, thu nhập, Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập phát hiện ông L chưa kê khai một căn biệt thự trị giá khoảng 5 tỷ đồng và một khoản tiền gửi ngân hàng trị giá 3 tỷ đồng.
Sau khi tiến hành xác minh theo đúng trình tự, thủ tục, Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập kết luận ông A đã kê khai không trung thực đối với tài sản có tổng giá trị khoảng 8 tỷ đồng và chuyển kết luận đến cơ quan có thẩm quyền để xem xét trách nhiệm theo quy định.
Hỏi: Theo quy định của Nghị định số 164/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, trường hợp kê khai không trung thực đối với tài sản có tổng giá trị đến 10 tỷ đồng có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Việc kê khai tài sản, thu nhập phải bảo đảm trung thực, đầy đủ và chính xác. Trường hợp người có nghĩa vụ kê khai không trung thực thì ngoài việc bị xử lý theo Luật Phòng, chống tham nhũng còn bị xem xét xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật và nghị định có liên quan.
Theo điểm b khoản 1 Điều 36 Nghị định số 164/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, hình thức khiển trách được áp dụng đối với:
"b) Người kê khai kê khai không trung thực đối với tài sản, thu nhập phải kê khai có tổng giá trị đến 10 tỷ đồng."
Đối chiếu với quy định trên, tổng giá trị tài sản ông L kê khai không trung thực là khoảng 8 tỷ đồng, thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 36 Nghị định số 164/2026/NĐ-CP. Do đó, ông L thuộc trường hợp có thể bị xem xét áp dụng hình thức kỷ luật khiển trách, việc quyết định hình thức xử lý cụ thể phải được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, hậu quả của hành vi cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ theo quy định của pháp luật.
Trong tình huống này, sau khi có kết luận xác minh, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ cần xem xét trách nhiệm của ông L theo đúng quy định về xử lý kỷ luật đối với người có hành vi kê khai tài sản, thu nhập không trung thực. Việc xử lý phải bảo đảm khách quan, công bằng, đúng trình tự, thủ tục và đúng thẩm quyền. Đồng thời, cơ quan, đơn vị cần tăng cường phổ biến các quy định về kê khai và kiểm soát tài sản, thu nhập; thường xuyên kiểm tra, rà soát việc thực hiện nghĩa vụ kê khai nhằm kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các trường hợp kê khai không đầy đủ hoặc không trung thực, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức liêm chính, minh bạch.
Tình huống 27: Lãnh đạo UBND xã giải trình không trung thực về nguồn gốc tài sản tăng thêm
Bà Hà Thị M là Chủ tịch UBND xã, thuộc đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng. Trong năm, qua theo dõi việc kê khai tài sản, thu nhập, Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập phát hiện tài sản của bà M có biến động lớn, với tổng giá trị tăng thêm khoảng 15 tỷ đồng do nhận chuyển nhượng nhiều bất động sản và góp vốn vào doanh nghiệp. Để làm rõ nguồn gốc tài sản tăng thêm, cơ quan có thẩm quyền đã yêu cầu bà B cung cấp thông tin, tài liệu và giải trình theo quy định.
Trong quá trình giải trình, bà M cung cấp một số hợp đồng, chứng từ và tài liệu không đúng sự thật nhằm hợp thức hóa nguồn tiền hình thành tài sản. Sau khi tiến hành xác minh theo trình tự, thủ tục, Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập kết luận bà M đã giải trình không trung thực về nguồn gốc tài sản tăng thêm có tổng giá trị khoảng 15 tỷ đồng và chuyển kết luận đến cơ quan có thẩm quyền để xem xét xử lý theo quy định.
Hỏi: Theo quy định của Nghị định số 164/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, trường hợp giải trình không trung thực về nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm có tổng giá trị từ trên 10 tỷ đồng đến 20 tỷ đồng có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Người có nghĩa vụ kê khai không chỉ phải kê khai tài sản, thu nhập trung thực mà còn có trách nhiệm giải trình trung thực về nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm khi có yêu cầu của Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập. Trường hợp giải trình không trung thực thì tùy theo giá trị tài sản, thu nhập và tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xem xét xử lý kỷ luật theo quy định.
Theo điểm c khoản 2 Điều 36 Nghị định số 164/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, hình thức cảnh cáo được áp dụng đối với:
"c) Người kê khai giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực đối với tài sản, thu nhập có tổng giá trị từ trên 10 tỷ đồng đến 20 tỷ đồng."
Đối chiếu với quy định trên, bà M đã giải trình không trung thực về nguồn gốc tài sản tăng thêm có tổng giá trị khoảng 15 tỷ đồng, thuộc khoảng giá trị từ trên 10 tỷ đồng đến 20 tỷ đồng. Do đó, bà M thuộc trường hợp có thể bị xem xét áp dụng hình thức kỷ luật cảnh cáo theo quy định của Nghị định số 164/2026/NĐ-CP. Việc quyết định hình thức xử lý cụ thể phải được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp này, sau khi có kết luận xác minh, cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ cần xem xét trách nhiệm của bà M theo đúng quy định về xử lý kỷ luật đối với người có hành vi giải trình không trung thực về nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm. Trường hợp bà là đảng viên, việc xử lý còn được thực hiện theo quy định của Đảng.