MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 65/2026/NĐ-CP NGÀY 28/02/2026 CỦA CHÍNH PHỦ

Thứ tư - 25/03/2026 23:17 21 0
Ngày 28/02/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 65/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phục hồi, phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản. Nghị định gồm 5 chương, 28 điều quy định chi tiết khoản 2 Điều 9 và Điều 21 của Luật Phục hồi, phá sản về tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề, việc cấp, thu hồi, cấp lại chứng chỉ hành nghề Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản; quản lý nhà nước đối với Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, hoạt động hành nghề quản lý, thanh lý tài sản; chi phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản; quy định biện pháp thi hành Luật Phục hồi, phá sản về bồi dưỡng nghề Quản tài viên, bồi dưỡng nghiệp vụ Quản tài viên hằng năm.
Một số điểm mới nổi bật của Nghị định số 65/2026/NĐ-CP:
1. Quy định về bồi dưỡng nghề Quản tài viên và tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ Quản tài viên hằng năm
- Nghị định bổ sung 01 Điều về bồi dưỡng nghề Quản tài viên (Điều 6). Theo đó, các đối tượng muốn cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên phải tham gia khóa bồi dưỡng nghề Quản tài viên.
 Thời gian bồi dưỡng nghề Quản tài viên là 03 tháng; trường hợp người tham gia bồi dưỡng là luật sư, kiểm toán viên đã hành nghề từ đủ 03 năm trở lên thì thời gian bồi dưỡng nghề Quản tài viên là 1,5 tháng. Chương trình bồi dưỡng nghề Quản tài viên bao gồm: Quy định pháp luật về Quản tài viên, quản lý, thanh lý tài sản và các quy định pháp luật khác có liên quan; Quy tắc đạo đức nghề nghiệp Quản tài viên; kiến thức và kỹ năng hành nghề quản lý, thanh lý tài sản; kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động hành nghề quản lý, thanh lý tài sản; các kỹ năng bổ trợ cho hoạt động hành nghề quản lý, thanh lý tài sản. Đơn vị tổ chức bồi dưỡng nghề Quản tài viên là cơ sở có chức năng đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp thuộc Bộ Tư pháp. Người hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề Quản tài viên được cấp giấy chứng nhận bồi dưỡng nghề Quản tài viên.
Quy định nêu trên nhằm góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ Quản tài viên, giúp trang bị cho Quản tài viên những kiến thức, kỹ năng cần thiết đáp ứng yêu cầu về nhiệm vụ, quyền hạn mới của Quản tài viên theo quy định của Luật Phục hồi, phá sản, bảo đảm sự tương đồng phù hợp giữa tiêu chuẩn cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên với tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm hoặc cấp chứng chỉ của các chức danh bổ trợ tư pháp khác.
- Với mục tiêu để các Quản tài viên thường xuyên được cập nhật các kiến thức, kỹ năng cần thiết cho hoạt động hành nghề, Nghị định cũng quy định Quản tài viên có nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ Quản tài viên hằng năm. Thời gian tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ tối thiểu là 01 ngày làm việc/năm (08 giờ/năm) liên tục.
Quản tài viên được tính là hoàn thành nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ Quản tài viên trong năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Là thành viên Tổ soạn thảo, Hội đồng thẩm định văn bản quy phạm pháp luật về phục hồi, phá sản hoặc quản lý, thanh lý tài sản;
+ Tham gia giảng dạy, làm báo cáo viên trong các chương trình tập huấn, hội thảo, tọa đàm, tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng về phục hồi, phá sản hoặc quản lý, thanh lý tài sản;
+ Tham gia Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ trở lên về phục hồi, phá sản hoặc quản lý, thanh lý tài sản.
Nhằm bảo đảm công tác chuẩn bị cho việc tổ chức, tham gia khóa bồi dưỡng nghề Quản tài viên và bồi dưỡng nghiệp vụ Quản tài viên hằng năm, Nghị định cũng quy định rõ về hiệu lực áp dụng: Quy định về nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ Quản tài viên hằng năm có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027; quy định về tiêu chuẩn đã hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề Quản tài viên (trong tiêu chuẩn, điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên) và Giấy chứng nhận bồi dưỡng nghề Quản tài viên (trong hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2027.
2. Quy định đầy đủ, cụ thể hơn về các trường hợp không được cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên gồm:
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; người đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích; người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, đặc khu, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
- Người bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
- Người đang là cán bộ, công chức, viên chức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; đang là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; đang là sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;
- Người thuộc một trong những trường hợp quy định tại điểm này mà chưa hết thời hạn 03 năm kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực thi hành: Cán bộ bị kỷ luật bằng hình thức bãi nhiệm; công chức, viên chức bị kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân bị kỷ luật bằng hình thức tước danh hiệu quân nhân hoặc buộc thôi việc; sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân bị kỷ luật bằng hình thức tước danh hiệu Công an nhân dân hoặc buộc thôi việc;
- Luật sư, kiểm toán viên bị thu hồi chứng chỉ hành nghề do vi phạm pháp luật mà chưa hết thời hạn 03 năm kể từ ngày quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề có hiệu lực thi hành;
- Người bị cấm hành nghề luật sư, kiểm toán viên theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
3. Bổ sung thêm các trường hợp bị thu hồi chứng chỉ hành nghề Quản tài viên
Nghị định quy định bổ sung thêm các trưởng hợp đã được cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên bị thu hồi chứng chỉ: Thôi hành nghề Quản tài viên theo nguyện vọng cá nhân; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, đặc khu, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; hành nghề Quản tài viên khi chưa được Sở Tư pháp ghi tên vào danh sách Quản tài viên, doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản tại địa phương hoặc hành nghề trong thời gian bị tạm đình chỉ hành nghề; không đăng ký hành nghề Quản tài viên trong thời hạn 36 tháng kể từ ngày được cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề Quản tài viên hoặc không tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ Quản tài viên hằng năm từ 03 lần trở lên; đồng thời hành nghề quản lý, thanh lý tài sản tại hai doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trở lên mà không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 11 của Nghị định số 65/2026/NĐ-CP hoặc vừa hành nghề quản lý, thanh lý tài sản tại doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản vừa hành nghề với tư cách cá nhân; thuộc trường hợp không được cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên tại thời điểm được cấp chứng chỉ.
Việc quy định bổ sung như trên bảo đảm sự chặt chẽ, thống nhất gắn với trách nhiệm của Quản tài viên đã được quy định tại Nghị định về: Trách nhiệm của Quản tài viên trong việc tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ Quản tài viên hằng năm; hình thức hành nghề của Quản tài viên; đồng thởi, đảm bảo tương đồng với quy định về các trường hợp bị thu hồi chứng chỉ chức danh bổ trợ tư pháp khác.
4. Bổ sung quy định về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử (Điều 4) bên cạnh cách thức thực hiện nộp trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính
Theo đó, tổ chức, cá nhân có quyền lựa chọn thực hiện các thủ tục hành chính theo quy định của Nghị định số 65/2026/NĐ-CP trên môi trường điện tử bao gồm: Người đề nghị cấp, thu hồi, cấp lại chứng chỉ hành nghề Quản tài viên; Quản tài viên đăng ký hành nghề với tư cách cá nhân, đăng ký thay đổi thông tin đăng ký hành nghề; Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đăng ký hành nghề, đăng ký thay đổi thông tin đăng ký hành nghề.
Tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia.
Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính khai thác thông tin, dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu quốc gia, Cơ sở dữ liệu chuyên ngành và hệ thống thông tin theo quy định pháp luật để giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, không yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp, xuất trình những giấy tờ, tài liệu đã có trong các cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin này, trừ trường hợp không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác không đầy đủ, không chính xác.
Nghị định số 65/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026, các quy định mới tại Nghị định là tiền đề để chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ quản tài viên, góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp./.

Tác giả bài viết: Vi Thị Ngọc Ánh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Làm bài thi
Thăm dò ý kiến

Bạn biết tới Cổng thông tin PBGDPL Thái Nguyên qua đâu ?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập70
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm69
  • Hôm nay24,435
  • Tháng hiện tại749,650
  • Tổng lượt truy cập31,489,416
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây