Sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp

Thứ tư - 25/02/2026 04:23 13 0
Ngày 14/01/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp. Nghị định gồm có 6 chương, 18 điều với nội dung về sửa đổi bổ sung các Nghị định trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; thi hành án dân sự, thừa phát lại; đăng ký biện pháp bảo đảm; hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; hành chính tư pháp. Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/01/2026.
Một số nội dung nổi bật tại Nghị định như sau:
1. Cắt giảm giấy tờ, tái sử dụng thông tin, dữ liệu trong giải quyết yêu cầu đăng ký, yêu cầu cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm
Nghị định số 18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 99/2022/NĐ-CP theo hướng quy định trách nhiệm của cơ quan đăng ký trong việc tái sử dụng thông tin, dữ liệu trong giải quyết yêu cầu đăng ký, yêu cầu cung cấp thông tin, thay thế cho việc yêu cầu người dân nộp giấy tờ, tài liệu thuộc thành phần hồ sơ đăng ký, hồ sơ yêu cầu cung cấp thông tin.
Theo khoản 4 Điều 11 Nghị định số 18/2026/NĐ-CP, người yêu cầu đăng ký chỉ phải nộp một lần văn bản của pháp nhân giao nhiệm vụ cho chi nhánh thực hiện chức năng của pháp nhân trong yêu cầu đăng ký, yêu cầu cung cấp thông tin, trừ trường hợp văn bản này có nội dung giao nhiệm vụ cho chi nhánh theo từng vụ việc. Đối với các lần đăng ký, yêu cầu cung cấp thông tin tiếp theo, cơ quan đăng ký có trách nhiệm số hóa, lưu giữ văn bản này và chủ động sử dụng thông tin, dữ liệu đã có, không yêu cầu người yêu cầu đăng ký nộp lại giấy tờ này, trừ trường hợp có văn bản khác thay đổi nội dung hoặc thay thế văn bản đã được số hóa, lưu giữ.
2. Xuất trình giấy tờ khi đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch
Khoản 1 Điều 13 Nghị định số 18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định về xuất trình giấy tờ khi đăng ký hộ tịch theo hướng quy định rõ cơ chế giải quyết thủ tục dựa trên dữ liệu điện tử, hạn chế yêu cầu xuất trình giấy tờ bản chính. Đồng thời, quy định rõ phương thức xử lý khi không khai thác được thông tin hoặc thông tin không chính xác. Cụ thể:
Người yêu cầu đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch có trách nhiệm xuất trình bản chính của một trong các giấy tờ sau đây: Hộ chiếu, Thẻ căn cước công dân, Thẻ căn cước, Giấy chứng nhận căn cước hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (sau đây gọi là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân khi làm thủ tục trực tiếp tại cơ quan đăng ký hộ tịch; trường hợp giấy tờ tùy thân sử dụng là: Hộ chiếu, Thẻ Căn cước, Căn cước công dân, Giấy chứng nhận căn cước thì chỉ cần cung cấp thông tin về giấy tờ (số, ngày tháng năm cấp) hoặc số định danh cá nhân, cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm tra cứu thông tin thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc cơ sở dữ liệu khác có liên quan để đối chiếu, khai thác dữ liệu.
Trường hợp không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác thì cơ quan đăng ký hộ tịch yêu cầu người đi đăng ký hộ tịch xuất trình bản chính giấy tờ để chứng minh, đồng thời đề nghị người đi đăng ký hộ tịch cập nhật, điều chỉnh thông tin trong các cơ sở dữ liệu theo quy định của pháp luật.
3. Về thủ tục xác nhận tình trạng hôn nhân
Tại khoản 2 Điều 13 Nghị định số 18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung về thủ tục xác nhận tình trạng hôn nhân đã ly hôn hoặc có vợ/chồng đã chết theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính. Người yêu cầu chỉ cần cung cấp thông tin về giấy tờ; không bắt buộc xuất trình/nộp bản giấy nếu thông tin đã có trong hệ thống cơ sở dữ liệu:
Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ/đã có chồng nhưng đã ly hôn tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền hoặc vợ/chồng đã chết và đã đăng ký khai tử tại cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền thì người yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin về giấy tờ (cơ quan cấp/đăng ký, số, ngày tháng năm ban hành Bản án/Quyết định ly hôn/Giấy chứng tử/Trích lục khai tử); nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 37 của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP thì cung cấp thông tin tương ứng của Trích lục ghi chú ly hôn; cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm tra cứu, khai thác thông tin của các giấy tờ này thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
4. Về đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử
Khoản 3 Điều 13 Nghị định quy định người yêu cầu đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tất cả giấy tờ, tài liệu có nội dung liên quan đến việc đăng ký lại.
Trường hợp giấy tờ, tài liệu là giấy tờ hộ tịch hoặc giấy tờ cá nhân thuộc nhóm giấy tờ có thể được thay thế bằng dữ liệu (giấy tờ tùy thân; giấy tờ chứng minh về nơi cư trú; Thẻ bảo hiểm y tế) thì cung cấp các thông tin về giấy tờ, tài liệu đó theo hướng dẫn của cơ quan chủ quản cơ sở dữ liệu, cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm tra cứu, khai thác thông tin, giấy tờ, tài liệu đó thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu khác có liên quan.
Nghị định cũng sửa đổi, bổ sung về việc đăng ký lại khai sinh với đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang tại điểm a khoản 4 Điều 13 theo hướng bỏ yêu cầu nộp văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị nếu cơ quan chức năng khai thác được thông tin liên quan trên các hệ thống cơ sở dữ liệu. Cụ thể:
Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh là cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang thì ngoài các giấy tờ theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này phải có văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị về việc những nội dung khai sinh của người đó gồm họ, chữ đệm, tên; giới tính; ngày tháng năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha - con, mẹ - con phù hợp với hồ sơ do cơ quan, đơn vị đang quản lý. Trường hợp cơ quan đăng ký hộ tịch khai thác được những thông tin này thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu về cán bộ, công chức, viên chức thì người yêu cầu không phải nộp văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị./.

Tác giả bài viết: Phạm Linh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây