Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Nghị định số 123/2024/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và kiến nghị hoàn thiện

Thứ sáu - 20/03/2026 03:12 10 0
Nghị định số 123/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai được ban hành nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Đất đai năm 2024, góp phần hoàn thiện cơ chế xử lý các hành vi vi phạm trong quản lý và sử dụng đất. Nghị định đã bổ sung nhiều quy định mới liên quan đến thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền, biện pháp khắc phục hậu quả cũng như cơ chế xác định số lợi bất hợp pháp thu được từ hành vi vi phạm.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện tại địa phương, đặc biệt ở cơ sở – nơi trực tiếp phát hiện và xử lý vi phạm – vẫn phát sinh nhiều khó khăn, vướng mắc cả về mặt pháp lý và thực tiễn áp dụng. Việc nhận diện và phân tích những vướng mắc này có ý nghĩa quan trọng nhằm hoàn thiện cơ chế pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai.
Một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện
1. Khó khăn trong việc xác định thời điểm vi phạm và thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm
Trong xử phạt vi phạm hành chính, việc xác định thời điểm xảy ra vi phạm và thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm có ý nghĩa quan trọng, là căn cứ để xác định thời hiệu xử phạt, mức xử phạt cũng như các biện pháp khắc phục hậu quả.
Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định các mốc thời gian này còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt đối với các hành vi vi phạm liên quan đến giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất, việc cung cấp thông tin sai lệch trong hồ sơ đất đai hoặc các hành vi vi phạm đã xảy ra từ nhiều năm trước.
Trong nhiều trường hợp, cơ quan có thẩm quyền chỉ xác định được năm xảy ra vi phạm nhưng không xác định được thời điểm cụ thể (ngày, tháng), dẫn đến lúng túng trong việc áp dụng quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.
2. Khó khăn trong việc xác định tình trạng đất và hậu quả vi phạm
Việc xác định diện tích đất vi phạm và hiện trạng ban đầu của đất trước khi xảy ra vi phạm là một trong những nội dung quan trọng để xác định hành vi vi phạm và áp dụng chế tài xử phạt. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định này gặp nhiều khó khăn do hồ sơ địa chính qua các thời kỳ chưa đầy đủ, bản đồ địa chính có sự biến động hoặc chưa được cập nhật kịp thời.
Đặc biệt, đối với các trường hợp vi phạm xảy ra từ nhiều năm trước hoặc trước thời điểm ngày 15/10/1993, người sử dụng đất sau khi thực hiện hành vi vi phạm đã chuyển nhượng bằng hình thức trao tay cho người khác. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc xác định chủ thể có hành vi vi phạm ban đầu, trong khi người đang sử dụng đất lại không phải là người trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm. Thực tiễn cho thấy, những trường hợp này thường phát sinh khiếu nại, tranh chấp kéo dài và gây khó khăn cho cơ quan quản lý trong quá trình xử lý.
3. Khó khăn trong việc xác định loại đất trước khi xảy ra vi phạm
Theo quy định của pháp luật, việc xác định hành vi sử dụng đất không đúng mục đích phải căn cứ vào mục đích sử dụng đất trước khi vi phạm, được thể hiện trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyết định giao đất, cho thuê đất hoặc các giấy tờ hợp pháp khác.
Tuy nhiên, trên thực tế vẫn tồn tại nhiều trường hợp đất chưa được đăng ký, chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc chưa được công nhận quyền sử dụng đất. Trong những trường hợp này, cơ quan xử lý vi phạm gặp khó khăn trong việc xác định chính xác loại đất trước khi vi phạm, dẫn đến lúng túng trong việc xác định hành vi vi phạm và áp dụng mức xử phạt tương ứng.
4. Khó khăn trong việc xác định số lợi bất hợp pháp
Nghị định số 123/2024/NĐ-CP quy định việc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm, đồng thời đưa ra phương pháp tính toán số lợi này dựa trên thời gian vi phạm.
Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng, việc xác định số lợi bất hợp pháp còn gặp nhiều vướng mắc. Một số trường hợp không xác định được chính xác thời điểm vi phạm nên khó xác định thời gian tính toán số lợi bất hợp pháp. Bên cạnh đó, đối với những hành vi vi phạm xảy ra trước khi Nghị định có hiệu lực hoặc trước khi pháp luật quy định nghĩa vụ nộp lại số lợi bất hợp pháp, việc xác định thời điểm bắt đầu tính số lợi bất hợp pháp cũng còn nhiều cách hiểu khác nhau.
Ngoài ra, cách tính số lợi bất hợp pháp theo thời gian vi phạm được quy định tại Nghị định cũng có những điểm chưa thật sự thống nhất với một số quy định khác của Nghị định, dẫn đến lúng túng trong quá trình áp dụng.
2.5. Khó khăn trong việc xác định chủ thể vi phạm và tổ chức cưỡng chế thi hành
Trong thực tế, nhiều trường hợp quyền sử dụng đất đã được chuyển nhượng cho người khác nhưng hành vi vi phạm lại xảy ra trước thời điểm chuyển quyền. Điều này gây khó khăn trong việc xác định chủ thể bị lập biên bản vi phạm, ban hành quyết định xử phạt hoặc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
Bên cạnh đó, một bộ phận người vi phạm không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt, đặc biệt là nghĩa vụ nộp lại số lợi bất hợp pháp hoặc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả. Việc tổ chức cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt thường đòi hỏi nhiều nhân lực, thời gian và kinh phí, trong khi nguồn lực của chính quyền cơ sở còn hạn chế. Thực tế cũng có trường hợp ngân sách nhà nước phải chi trả chi phí cưỡng chế nhưng không thu hồi được từ người vi phạm.
6. Vướng mắc trong xử lý hành vi lấn đất, chiếm đất
Nghị định số 123/2024/NĐ-CP chưa giải thích cụ thể một số khái niệm như “lấn đất”, “chiếm đất”, dẫn đến cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất giữa các địa phương. Điều này tiềm ẩn nguy cơ áp dụng pháp luật không thống nhất hoặc không đúng quy định.
Bên cạnh đó, Nghị định quy định biện pháp khắc phục hậu quả là buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất, nhưng không quy định rõ nội dung buộc trả lại phần đất đã lấn, chiếm như trước đây. Điều này gây khó khăn trong quá trình tổ chức thi hành trên thực tế.
Ngoài ra, mức xử phạt đối với hành vi lấn đất, chiếm đất tương đối cao, trong khi việc xác định loại đất, quy hoạch sử dụng đất hoặc mục đích sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2024 trong một số trường hợp còn chưa rõ ràng, dẫn đến khó khăn trong việc xác định chính xác hành vi và mức xử phạt.
7. Vướng mắc trong xử lý hành vi sử dụng đất không đúng mục đích
Đối với hành vi sử dụng đất không đúng mục đích, Nghị định quy định biện pháp khắc phục hậu quả là buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp hành vi vi phạm xảy ra từ lâu, thậm chí đã hình thành công trình xây dựng ổn định và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng hiện hành.
Trong những trường hợp này, việc buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất không chỉ gây khó khăn cho người vi phạm mà còn có thể dẫn đến lãng phí nguồn lực xã hội và tài nguyên đất đai.
Bên cạnh đó, việc xác định diện tích đất vi phạm, tính toán số lợi kinh tế thu được từ hành vi sử dụng đất sai mục đích hoặc xử lý các trường hợp người vi phạm không phải là chủ sử dụng đất cũng còn nhiều vướng mắc trong thực tiễn.
Ngoài các vấn đề nêu trên, trong quá trình thực hiện Nghị định số 123/2024/NĐ-CP còn phát sinh một số vướng mắc khác như:
Việc áp dụng biện pháp buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất đối với hành vi hủy hoại đất gặp khó khăn trong trường hợp đất đã thay đổi kết cấu, bề mặt từ nhiều năm trước hoặc hồ sơ địa chính không đầy đủ.
Hành vi “cản trở, gây khó khăn” đối với hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa được quy định rõ tiêu chí xác định mức độ vi phạm, dễ dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất.
Quy định về buộc đăng ký biến động đất đai trong một số trường hợp khó thực hiện khi người vi phạm không cung cấp hồ sơ, giấy tờ liên quan; cơ chế cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ này cũng chưa thật sự rõ ràng.
 Một số kiến nghị, đề xuất
Từ những khó khăn, vướng mắc nêu trên, để nâng cao hiệu quả thực hiện Nghị định số 123/2024/NĐ-CP, cần nghiên cứu một số giải pháp sau:
Thứ nhất, cơ quan có thẩm quyền cần ban hành hướng dẫn chi tiết về việc xác định thời điểm vi phạm, thời điểm chấm dứt vi phạm và phương pháp xác định số lợi bất hợp pháp, bảo đảm thống nhất trong quá trình áp dụng.
Thứ hai, nghiên cứu làm rõ hoặc giải thích một số khái niệm pháp lý như “lấn đất”, “chiếm đất”, “cản trở, gây khó khăn”… nhằm tránh cách hiểu khác nhau giữa các địa phương.
Thứ ba, xem xét bổ sung cơ chế xử lý linh hoạt đối với các trường hợp sử dụng đất không đúng mục đích nhưng phù hợp với quy hoạch hiện hành, nhằm hạn chế lãng phí nguồn lực xã hội và bảo đảm tính khả thi trong tổ chức thực hiện.
Thứ tư, tăng cường đầu tư cơ sở dữ liệu đất đai, trang thiết bị đo đạc và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đất đai, đặc biệt ở cấp cơ sở.
Nghị định số 123/2024/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về đất đai. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc cần tiếp tục được nghiên cứu, hướng dẫn và hoàn thiện. Việc kịp thời tháo gỡ những vướng mắc này không chỉ giúp bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật mà còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai tiết kiệm, hợp lý và bền vững./.
 

Tác giả bài viết: Thu Chung

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây