Tình huống tuyên truyền pháp luật về phòng, chống ma túy

Thứ hai - 02/11/2026 22:05 21 0
Theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy năm 2025; Nghị định 163/2026/NĐ-CP; Nghị định 166/2026/NĐ-CP.

Tình huống 1: Thay đổi vị trí đeo thiết bị giám sát điện tử đối với người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

Anh Nguyễn Văn A đang bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử tại xã X. Thiết bị giám sát điện tử được đeo tại vị trí quy định trên cơ thể anh A từ ngày 01/8/2026. Đến ngày 05/9/2026, anh A nhận thấy việc đeo thiết bị liên tục tại vị trí này gây khó chịu nên làm Đơn đề nghị thay đổi vị trí đeo thiết bị giám sát điện tử theo Mẫu số 05, gửi Công an xã X. Công an xã X cho rằng anh A chưa đủ điều kiện để đề nghị thay đổi vị trí đeo thiết bị vì việc đeo thiết bị mới được hơn 01 tháng và không có yêu cầu từ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Vì vậy, Công an xã X từ chối giải quyết đề nghị của anh A. Anh A có đủ điều kiện để đề nghị Công an xã X thay đổi vị trí đeo thiết bị giám sát điện tử trong trường hợp này không?

Trả lời: 

Theo khoản 3 Điều 19 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định:

“3. Người bị giám sát điện tử có thể làm đơn đề nghị Công an cấp xã thay đổi vị trí đeo thiết bị giám sát điện tử theo Mẫu số 05 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này nếu thời gian đeo thiết bị giám sát điện tử tại một vị trí đã từ đủ 01 tháng trở lên hoặc theo yêu cầu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cần phải thay đổi vị trí đeo đối với người đó. Việc thay đổi vị trí đeo thiết bị giám sát điện tử phải được lập biên bản theo Mẫu số 09 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.”

Người bị giám sát điện tử có thể làm đơn đề nghị Công an cấp xã thay đổi vị trí đeo thiết bị theo Mẫu số 05 tại Phụ lục I trong một trong các trường hợp: Thời gian đeo thiết bị tại một vị trí đã từ đủ 01 tháng trở lên; hoặc theo yêu cầu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cần phải thay đổi vị trí đeo thiết bị.

Trong tình huống trên, anh A bắt đầu đeo thiết bị tại vị trí hiện tại từ ngày 01/8/2026 và đến ngày 05/9/2026 đã được 35 ngày, tức là đã từ đủ 01 tháng trở lên.

Vì vậy, anh A đủ điều kiện làm đơn đề nghị thay đổi vị trí đeo thiết bị, không bắt buộc phải có thêm yêu cầu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Sau khi thực hiện thay đổi vị trí đeo, việc thay đổi phải được lập biên bản theo Mẫu số 09 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định.

Tình huống 2: Thay thế thiết bị giám sát điện tử đối với người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

Anh Nguyễn Văn A đang bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử tại xã X. Trong quá trình thực hiện giám sát, ngày 20/9/2026, cán bộ Công an xã X kiểm tra thiết bị giám sát điện tử đang đeo trên người anh A và phát hiện thiết bị thường xuyên mất tín hiệu, không truyền dữ liệu về hệ thống giám sát. Cán bộ Công an xã X tiến hành kiểm tra và xác định thiết bị đã bị hỏng, không thể hoạt động bình thường. Cán bộ cũng kiểm tra các phụ kiện kèm theo và phát hiện bộ phận kết nối của thiết bị bị lỗi kỹ thuật.

Để bảo đảm việc giám sát điện tử được thực hiện liên tục, cán bộ Công an xã X tiến hành thay thiết bị giám sát điện tử và phụ kiện bị hỏng bằng thiết bị, phụ kiện khác đang hoạt động bình thường cho anh A. Việc thay thế thiết bị giám sát điện tử, phụ kiện kèm theo thiết bị cho anh A được thực hiện như thế nào theo quy định?

Trả lời:

Theo khoản 4 Điều 19 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định:

“4. Khi xác định thiết bị giám sát điện tử, phụ kiện kèm theo thiết bị bị hỏng, gặp sự cố kỹ thuật, cán bộ Công an cấp xã tiến hành thay thế thiết bị giám sát điện tử, phụ kiện kèm theo thiết bị cho người bị giám sát, bảo đảm thiết bị và phụ kiện kèm theo hoạt động bình thường. Việc thay thế thiết bị giám sát điện tử, phụ kiện kèm theo thiết bị cho người bị giám sát phải được lập thành biên bản theo Mẫu số 10 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.”.

Khi xác định thiết bị giám sát điện tử hoặc phụ kiện kèm theo thiết bị bị hỏng, gặp sự cố kỹ thuật, cán bộ Công an cấp xã tiến hành thay thế thiết bị, phụ kiện cho người bị giám sát, bảo đảm thiết bị và phụ kiện hoạt động bình thường. Như vậy, trong tình huống trên, cán bộ Công an xã X đã xác định thiết bị và phụ kiện kèm theo bị hỏng, gặp sự cố kỹ thuật, nên việc tiến hành thay thế là phù hợp với quy định.

Tuy nhiên, quy định không chỉ yêu cầu thực hiện việc thay thế mà còn yêu cầu việc thay thế thiết bị giám sát điện tử, phụ kiện kèm theo thiết bị phải được lập thành biên bản. Biên bản phải được lập theo Mẫu số 10 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 163/2026/NĐ-CP.

Tình huống 3: Tạm dừng áp dụng biện pháp giám sát điện tửđối với người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

Anh Nguyễn Văn A, 25 tuổi, đang thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và đang bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử tại xã X. Ngày 20/9/2026, Tòa án có quyết định buộc anh A phải chấp hành án phạt tù. Cơ quan có thẩm quyền thông báo cho Công an xã X về việc anh A phải chấp hành hình phạt tù. Trưởng Công an xã X cho rằng khi anh A phải chấp hành án phạt tù thì biện pháp giám sát điện tử đương nhiên chấm dứt, vì anh A không còn ở địa phương để tiếp tục thực hiện việc cai nghiện tại gia đình, cộng đồng. Do đó, Trưởng Công an xã X không ban hành quyết định tạm dừng mà dự kiến chấm dứt luôn biện pháp giám sát điện tử. Trong trường hợp anh A đang bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử nhưng phải chấp hành án phạt tù, Trưởng Công an xã X phải thực hiện như thế nào?

Trả lời:

Theo khoản 1 Điều 20 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định: 

“1. Trưởng Công an cấp xã ra Quyết định tạm dừng áp dụng biện pháp giám sát điện tử theo Mẫu số 11 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này trong các trường hợp sau:

a) Người bị giám sát điện tử phải chấp hành án phạt tù;

b) Người bị giám sát điện tử phải thi hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng.”.

Trong tình huống trên, anh A đang bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử và phải chấp hành án phạt tù. Vì vậy, trường hợp của anh A thuộc điểm a khoản 1 Điều 20. Do đó, Trưởng Công an xã X phải ra Quyết định tạm dừng áp dụng biện pháp giám sát điện tử theo Mẫu số 11, chứ không phải ngay lập tức ra quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp giám sát điện tử.

Việc tạm dừng và chấm dứt là hai trường hợp pháp lý khác nhau. Khi người bị giám sát thuộc trường hợp phải chấp hành án phạt tù, pháp luật quy định tạm dừng việc áp dụng biện pháp. Khi người đó trở về địa phương, nếu thời hạn áp dụng biện pháp giám sát điện tử vẫn còn thì phải tiếp tục đeo thiết bị giám sát điện tử.

Tình huống 4: Thi hành quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

Anh Nguyễn Văn A đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và đang bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử tại xã X. Ngày 10/9/2026, anh A phải chấp hành án phạt tù. Trưởng Công an xã X ban hành Quyết định tạm dừng áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với anh A. Cán bộ Công an xã X được giao nhiệm vụ thi hành quyết định, tiến hành tháo và thu hồi thiết bị giám sát điện tử đang đeo trên người anh A.

Sau khi thi hành, cán bộ Công an xã X lập Biên bản thi hành Quyết định tạm dừng áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Ngày 10/12/2026, anh A chấp hành xong hình phạt tù và trở về địa phương. Tại thời điểm này, thời hạn áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với anh A vẫn còn 02 tháng. Cán bộ Công an xã X cho rằng biện pháp giám sát điện tử đã được tạm dừng trong thời gian anh A chấp hành án phạt tù nên khi anh A trở về địa phương không cần đeo lại thiết bị. Khi anh A trở về địa phương mà thời hạn áp dụng biện pháp giám sát điện tử vẫn còn, anh A có phải tiếp tục đeo thiết bị giám sát điện tử không? Nếu có thì việc đeo lại thiết bị phải được lập biên bản theo mẫu nào?

Trả lời:

Theo khoản 2 Điều 20 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định: 

“2. Việc thi hành Quyết định tạm dừng áp dụng biện pháp giám sát điện tử phải được lập biên bản theo Mẫu số 12 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này. Khi người quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều này trở về địa phương, nếu thời hạn áp dụng biện pháp giám sát điện tử vẫn còn thì phải tiếp tục đeo thiết bị giám sát điện tử. Việc đeo lại thiết bị giám sát điện tử đối với người này phải được lập biên bản theo Mẫu số 08 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.”.

Trong tình huống trên, thời hạn giám sát điện tử của anh A vẫn còn 02 tháng tại thời điểm trở về địa phương. Vì vậy, việc tạm dừng trước đó không làm chấm dứt thời hạn áp dụng biện pháp giám sát điện tử.

Do đó, Công an xã X phải tổ chức đeo lại thiết bị giám sát điện tử cho anh A để tiếp tục thực hiện biện pháp trong thời gian còn lại. Việc đeo lại thiết bị phải được lập biên bản theo Mẫu số 08 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 163/2026/NĐ-CP.

Tình huống 5: Miễn áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

Anh Nguyễn Văn A, 25 tuổi, đang thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và thuộc trường hợp được áp dụng biện pháp giám sát điện tử theo khoản 1 Điều 15 Nghị định 163/2026/NĐ-CP. Ngày 01/9/2025, Trưởng Công an xã X ban hành Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với anh A. Sau khi quyết định được thi hành, anh A thực hiện việc giám sát điện tử đầy đủ, chấp hành đúng các quy định trong thời gian bị giám sát. Đến ngày 01/9/2026, anh A đã thực hiện biện pháp giám sát điện tử được 01 năm. Trong suốt thời gian này, anh A: Không có hành vi vi phạm các quy định về giám sát điện tử; Không có hành vi vi phạm pháp luật khác; Chấp hành đầy đủ các yêu cầu của cơ quan Công an trong quá trình giám sát.

Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với anh A vẫn còn thời gian thực hiện. Anh A đề nghị Trưởng Công an xã X miễn áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với phần thời gian còn lại của quyết định. Trưởng Công an xã X có thể xem xét miễn áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với thời gian còn lại của quyết định đối với anh A không?

Trả lời: 

Theo khoản 3 Điều 20 Nghị đinh 163/2026/NĐ-CP quy định: 

“3. Trưởng Công an cấp xã xem xét ra quyết định miễn áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với thời gian còn lại của quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử theo Mẫu số 13 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này đối với:

a) Người bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định này sau khi thực hiện quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử được 01 năm mà trong quá trình thực hiện quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử không có hành vi vi phạm quy định về giám sát điện tử tại khoản 1 Điều 24 của Nghị định này hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác;

b) Người bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định này sau khi thực hiện quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử được 06 tháng mà trong quá trình thực hiện quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử không có hành vi vi phạm quy định về giám sát điện tử tại khoản 1 Điều 24 của Nghị định này hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác.

Việc thi hành quyết định miễn áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với thời gian còn lại của quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử phải được lập thành biên bản theo Mẫu số 14 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.”

Trong tình huống trên, anh A thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định 163/2026/NĐ-CP. Anh A đã thực hiện biện pháp giám sát điện tử đủ 01 năm, từ ngày 01/9/2025 đến ngày 01/9/2026. Đồng thời, trong suốt thời gian này, anh A không có hành vi vi phạm quy định về giám sát điện tử và cũng không có hành vi vi phạm pháp luật khác.

Như vậy, anh A đáp ứng các điều kiện để Trưởng Công an cấp xã xem xét ra quyết định miễn áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với thời gian còn lại. Quyết định miễn được lập theo Mẫu số 13 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 163/2026/NĐ-CP. Ngoài ra, theo quy định, việc thi hành quyết định miễn áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với thời gian còn lại phải được lập thành biên bản theo Mẫu số 14 tại Phụ lục I.

Tình huống 6: Cố ý để thiết bị giám sát điện tử hết pin trong thời hạn 24 giờ

Anh A đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và được áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Trong quá trình thực hiện, anh A có hành vi cố ý để thiết bị giám sát điện tử hết pin trong thời hạn 24 giờ mà không có lý do chính đáng. Đây là hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 1 Điều 24 Nghị định 163/2026/NĐ-CP. Công an cấp xã phát hiện và lập biên bản vi phạm, đồng thời tổ chức nhắc nhở anh A. Sau đó, anh A tiếp tục để thiết bị hết pin lần thứ hai. Công an cấp xã tiếp tục lập biên bản và tổ chức nhắc nhở. Ở lần thứ ba, anh A lại để thiết bị hết pin mà không có lý do chính đáng. Hoặc trong trường hợp khác, sau khi bị lập biên bản ở một trong hai lần đầu, anh A không khắc phục vi phạm trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản. Anh A sẽ bị xử lý như thế nào đối với các hành vi vi phạm nêu trên? Khi nào hành vi vi phạm bị chuyển sang xử lý theo khoản 2 Điều 47 Luật Phòng, chống ma túy?

Trả lời: 

Theo khoản 4 Điều 25 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định:

“Điều 25. Xử lý vi phạm trong thực hiện biện pháp giám sát điện tử

4. Các trường hợp vi phạm điểm d, điểm đ khoản 1 Điều 24 Nghị định này bị lập biên bản vi phạm và tổ chức nhắc nhở đối với 02 lần đầu. Nếu không khắc phục trong vòng 24 giờ kể từ khi lập biên bản hoặc vi phạm lần thứ 3 sẽ bị lập biên bản về hành vi không chấp hành việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử và bị xử lý theo khoản 2 Điều 47 của Luật Phòng, chống ma túy.”.

Đối với các trường hợp vi phạm quy định tại điểm d, điểm đ khoản 1 Điều 24, pháp luật quy định cơ chế xử lý theo từng mức độ và số lần vi phạm. Cụ thể:

- 02 lần vi phạm đầu: Công an cấp xã lập biên bản vi phạm và tổ chức nhắc nhở người vi phạm.

- Nếu sau khi bị lập biên bản, người vi phạm không khắc phục trong vòng 24 giờ kể từ khi lập biên bản, thì không tiếp tục dừng ở biện pháp nhắc nhở mà bị lập biên bản về hành vi không chấp hành việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử.

- Nếu người bị giám sát vi phạm lần thứ 3, cũng bị lập biên bản về hành vi không chấp hành việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử và bị xử lý theo khoản 2 Điều 47 Luật Phòng, chống ma túy.

Như vậy, trong tình huống trên, nếu anh A vi phạm lần thứ nhất và lần thứ hai thì Công an cấp xã lập biên bản và tổ chức nhắc nhở. Nhưng khi anh A vi phạm lần thứ ba, vụ việc chuyển sang bước xử lý nghiêm khắc hơn: lập biên bản về hành vi không chấp hành việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử và xử lý theo khoản 2 Điều 47 Luật Phòng, chống ma túy.

Tình huống 7: Cố ý dùng vật cứng tác động làm hư hỏng thiết bị giám sát điện tử

Anh A đang thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và được áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Trong quá trình thực hiện, do không muốn tiếp tục bị giám sát, anh A đã cố ý dùng vật cứng tác động làm hư hỏng thiết bị giám sát điện tử và một số phụ kiện kèm theo. Cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi của anh A thuộc trường hợp vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 24 Nghị định 163/2026/NĐ-CP. Trong một trường hợp khác, anh B đang đeo thiết bị giám sát điện tử nhưng đã tự ý tháo thiết bị, làm hư hỏng thiết bị và phụ kiện kèm theo. Hành vi của anh B thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 24. Anh A và anh B ngoài việc bị xử lý đối với hành vi vi phạm quy định về giám sát điện tử còn phải thực hiện nghĩa vụ gì đối với thiết bị và phụ kiện bị hư hỏng?

Trả lời:

Theo khoản 7 Điều 25 Nghị định 163/2025/NĐ-CP quy định:

“Điều 25. Xử lý vi phạm trong thực hiện biện pháp giám sát điện tử

7. Đối với người có hành vi vi phạm quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 24, ngoài việc bị xử lý theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này, người vi phạm còn phải có nghĩa vụ đền bù thiệt hại vật chất thực tế đối với thiết bị và phụ kiện kèm theo.”.

Người có hành vi vi phạm quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 24, ngoài việc bị xử lý theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 25, người vi phạm còn phải có nghĩa vụ đền bù thiệt hại vật chất thực tế đối với thiết bị và phụ kiện kèm theo. Như vậy, trong tình huống trên:

Anh A có hành vi thuộc điểm a khoản 1 Điều 24, làm hư hỏng thiết bị và phụ kiện. Ngoài việc bị xử lý vi phạm theo quy định, anh A còn phải đền bù thiệt hại vật chất thực tế phát sinh đối với thiết bị và phụ kiện.

Anh B có hành vi tự ý tháo thiết bị, thuộc điểm c khoản 1 Điều 24. Nếu hành vi này gây thiệt hại đối với thiết bị và phụ kiện, ngoài việc bị xử lý vi phạm, anh B cũng phải đền bù thiệt hại vật chất thực tế theo quy định.

Quy định này nhằm nâng cao trách nhiệm của người bị giám sát trong việc giữ gìn, bảo quản thiết bị và phụ kiện, đồng thời bảo đảm tài sản phục vụ hoạt động giám sát điện tử được quản lý, sử dụng đúng quy định.

Tình huống 8: Các hành vi không bị coi là vi phạm biện pháp giám sát điện tử

Anh A đang thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và được áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Trong quá trình sử dụng, thiết bị giám sát điện tử bất ngờ ngừng hoạt động. Anh A kiểm tra và nhận thấy thiết bị không hoạt động bình thường. Tuy nhiên, nguyên nhân không xuất phát từ việc anh A tự ý tháo, phá hoại, tác động vào thiết bị hoặc cố ý không sạc pin, mà do sự cố kỹ thuật của thiết bị. Sau khi sự cố được khắc phục, anh A kịp thời thông báo cho Công an cấp xã về sự việc theo đúng thời hạn quy định. Trong trường hợp này, anh A có bị coi là vi phạm quy định về giám sát điện tử hay không?

Trả lời:

Theo khoản 2 Điều 24 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định:

“Điều 24. Các hành vi vi phạm quy định về giám sát điện tử

2. Trường hợp thiết bị không hoạt động hoặc hoạt động không bình thường do có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lỗi kỹ thuật của thiết bị và người bị giám sát đã thông báo cho Công an cấp xã trong thời hạn 24 giờ kể từ khi sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan kết thúc thì không bị coi là vi phạm biện pháp giám sát điện tử.”.

Theo khoản 2 Điều 24 Nghị định 163/2026/NĐ-CP, trường hợp thiết bị giám sát điện tử không hoạt động hoặc hoạt động không bình thường do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lỗi kỹ thuật của thiết bị, nếu người bị giám sát thực hiện việc thông báo cho Công an cấp xã theo đúng thời hạn quy định thì không bị coi là vi phạm biện pháp giám sát điện tử.

Trong tình huống trên, thiết bị của anh A không hoạt động do lỗi kỹ thuật, không phải do hành vi cố ý hoặc lỗi của anh A. Đồng thời, anh A đã thực hiện nghĩa vụ thông báo cho Công an cấp xã theo quy định. Vì vậy, hành vi của anh A không bị coi là vi phạm biện pháp giám sát điện tử.

Không phải cứ thiết bị ngừng hoạt động là người bị giám sát bị coi là vi phạm. Pháp luật có loại trừ đối với trường hợp sự cố xuất phát từ bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lỗi kỹ thuật của thiết bị, với điều kiện người bị giám sát thực hiện đúng nghĩa vụ thông báo theo quy định.

Tình huống 9:  Xử lý vi phạm trong thực hiện biện pháp giám sát điện tử

Anh A đang thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và được áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Trong quá trình thực hiện, anh A không chấp hành việc đeo thiết bị giám sát điện tử. Công an cấp xã phát hiện hành vi vi phạm, lập biên bản và tổ chức nhắc nhở anh A, yêu cầu anh khắc phục và tiếp tục chấp hành việc đeo thiết bị theo quy định. Sau khi được nhắc nhở, anh A vẫn không đeo lại thiết bị và không khắc phục vi phạm trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản. Hành vi của anh A được xử lý như thế nào? Nếu sau đó anh A tiếp tục có hành vi vi phạm thì việc xử lý có thay đổi không?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 25 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định: 

“Điều 25. Xử lý vi phạm trong thực hiện biện pháp giám sát điện tử

3. Các trường hợp vi phạm điểm b, điểm c khoản 1 Điều 24 Nghị định này bị lập biên bản vi phạm và tổ chức nhắc nhở đối với lần đầu. Nếu không khắc phục trong vòng 24 giờ kể từ khi lập biên bản vi phạm hoặc vi phạm từ lần thứ 2 sẽ bị lập biên bản về hành vi không chấp hành việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử và bị xử lý theo khoản 2 Điều 47 của Luật Phòng, chống ma túy.”

Việc không chấp hành việc đeo thiết bị giám sát điện tử là hành vi vi phạm quy định về giám sát điện tử hay tự ý tháo thiết bị giám sát điện tử sẽ bị  xử lý theo từng mức độ:

- Nếu vi phạm lần đầu: Công an cấp xã lập biên bản vi phạm và tổ chức nhắc nhở người vi phạm.

- Nếu không khắc phục trong vòng 24 giờ kể từ khi lập biên bản: Công an cấp xã lập biên bản về hành vi không chấp hành việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử và xử lý theo khoản 2 Điều 47 Luật Phòng, chống ma túy.

- Nếu vi phạm từ lần thứ hai: cũng lập biên bản về hành vi không chấp hành việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử và xử lý theo khoản 2 Điều 47 Luật Phòng, chống ma túy

Như vậy, trong tình huống trên, mặc dù anh A vi phạm lần đầu, nhưng sau khi được lập biên bản và nhắc nhở, anh A vẫn không khắc phục trong thời hạn 24 giờ. Vì vậy, vụ việc được chuyển sang bước xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Luật Phòng, chống ma túy.

Theo quy định này, trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng mà người nghiện ma túy không chấp hành việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử thì bị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc.

Tình huống 10:Thiết bị giám sát điện tử đối với người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

Ngày 10/9/2026, Trưởng Công an xã X ban hành Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với anh Nguyễn Văn A theo quy định của pháp luật. Sau khi Quyết định có hiệu lực, cán bộ Công an xã X được phân công tổ chức thi hành quyết định. Cán bộ Công an đã thông báo cho anh A về việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử, hướng dẫn anh A về các quy định phải chấp hành trong thời gian bị giám sát và tiến hành đeo thiết bị giám sát điện tử lên cơ thể anh A. Anh A cho rằng việc cán bộ Công an trực tiếp đeo thiết bị lên cơ thể mình chỉ là một thao tác kỹ thuật để bắt đầu việc giám sát, không phải là một nội dung của hoạt động giám sát điện tử. Việc cán bộ Công an xã X đeo thiết bị giám sát điện tử cho anh A có phải là nội dung của giám sát điện tử không?

Trả lời

Theo điểm a khoản 1 Điều 18 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định:

“ Điều 18. Nội dung, quy trình giám sát điện tử

1. Nội dung giám sát điện tử bao gồm:

a) Thực hiện đeo thiết bị giám sát điện tử;

b) Xử lý các cảnh báo của thiết bị giám sát điện tử;

c) Giáo dục, tư vấn người bị giám sát điện tử;

d) Xử lý các hành vi vi phạm trong thực hiện giám sát điện tử;

đ) Tháo thiết bị giám sát điện tử và đeo lại thiết bị giám sát điện tử trong trường hợp tháo tạm thời; thay đổi vị trí đeo thiết bị giám sát điện tử; tạm dừng áp dụng biện pháp giám sát điện tử;

e) Tháo thiết bị giám sát điện tử khi người bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử được miễn phần thời gian còn lại, chấm dứt giám sát điện tử;

g) Thay thiết bị giám sát điện tử, phụ kiện kèm theo thiết bị cho người bị giám sát trong trường hợp thiết bị giám sát điện tử, phụ kiện kèm theo bị hư hỏng;

h) Quản lý, thu hồi thiết bị giám sát điện tử, khắc phục, xử lý sự cố kỹ thuật.”.

Trong tình huống trên, cán bộ Công an xã X được giao nhiệm vụ thực hiện giám sát điện tử và đã tiến hành đeo thiết bị giám sát điện tử cho anh A. Đây chính là một trong những nội dung của hoạt động giám sát điện tử được pháp luật quy định. Việc cán bộ Công an xã X đeo thiết bị giám sát điện tử cho anh A là nội dung của giám sát điện tử, được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 18 Nghị định 163/2026/NĐ-CP.

Tình huống 11:  Tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử đối với người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

Anh Nguyễn Văn A đang bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử tại xã X. Trong thời gian thực hiện giám sát, ngày 12/8/2026, anh A có biểu hiện sức khỏe bất thường và đến Bệnh viện Y để khám bệnh. Sau khi thăm khám, bác sĩ xác định anh A phải thực hiện chụp cộng hưởng từ (MRI) và yêu cầu tháo thiết bị giám sát điện tử trong thời gian thực hiện kỹ thuật do yêu cầu an toàn của thiết bị y tế.

Anh A thông báo sự việc cho cán bộ Công an xã X đang trực tiếp thực hiện việc giám sát và đề nghị được tháo tạm thời thiết bị để thực hiện việc khám, chữa bệnh. Cán bộ Công an xã X cho rằng người đang bị giám sát điện tử không được tháo thiết bị trong bất kỳ trường hợp nào nên từ chối tháo thiết bị, mặc dù cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã có yêu cầu. Anh A có được tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử trong trường hợp này không? Việc cán bộ Công an xã X từ chối tháo thiết bị có đúng quy định không?

Trả lời

Theo khoản 1 Điều 19 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định:

“Điều 19. Tháo tạm thời, thay đổi vị trí đeo, thay thế thiết bị giám sát điện tử

1. Người bị giám sát điện tử được tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử trong các trường hợp:

a) Vì mục đích khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

b) Đi ra ngoài lãnh thổ Việt Nam bằng đường hàng không;

c) Đi ra ngoài lãnh thổ Việt Nam từ 07 ngày trở lên;

d) Bị tạm giữ hình sự, tạm giam.”.

Trong tình huống trên, anh A đang thực hiện biện pháp giám sát điện tử nhưng có nhu cầu khám bệnh. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh yêu cầu tháo thiết bị để thực hiện kỹ thuật chụp cộng hưởng từ. Như vậy, trường hợp của anh A thuộc trường hợp được tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử theo điểm a khoản 1 Điều 19 Nghị định 163/2026/NĐ-CP.

Do đó, việc cán bộ Công an xã X cho rằng người bị giám sát điện tử không được tháo thiết bị trong mọi trường hợp và từ chối tháo thiết bị, mặc dù có yêu cầu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, là không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 19 nghị định này.

Tình huống 12: Trách nhiệm tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử đối với người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

Anh Nguyễn Văn A đang bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử và thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 19 Nghị định 163/2026/NĐ-CP. Ngày 15/9/2026, anh A bị đau bụng dữ dội khi đang đi làm tại huyện Y, cách nơi cư trú tại xã X khoảng 50 km. Anh A được người dân đưa vào Bệnh viện Y để cấp cứu. Qua kiểm tra, bác sĩ xác định anh A cần được khám và điều trị khẩn cấp. Do yêu cầu chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, thiết bị giám sát điện tử phải được tháo tạm thời. Trong tình trạng cấp cứu, anh A không thể quay về xã X để làm thủ tục. Anh A đề nghị Công an xã Y, nơi bệnh viện đang hoạt động, hỗ trợ tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử. Theo nguyên tắc chung, cơ quan Công an nào có trách nhiệm tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử?

Trả lời: 

Theo điểm a, b,c khoản 1 Điều 19 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định:

“1. Người bị giám sát điện tử được tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử trong các trường hợp:

a) Vì mục đích khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

b) Đi ra ngoài lãnh thổ Việt Nam bằng đường hàng không;

c) Đi ra ngoài lãnh thổ Việt Nam từ 07 ngày trở lên;

Người quy định tại điểm a, điểm b, điểm c khoản 1 Điều này phải làm đơn đề nghị tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử gửi Công an cấp xã theo Mẫu số 05 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.”.

Theo nguyên tắc trên thì Công an cấp xã nơi thực hiện biện pháp giám sát điện tử có trách nhiệm tiến hành tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử đối với người thuộc trường hợp được phép tháo tạm thời theo quy định. Như vậy, về nguyên tắc, khi người bị giám sát điện tử có nhu cầu và đủ điều kiện để tháo tạm thời thiết bị, Công an cấp xã đang trực tiếp thực hiện biện pháp giám sát điện tử đối với người đó là cơ quan có trách nhiệm tiến hành tháo thiết bị. Trường hợp người quy định tại điểm a khoản này phải khám bệnh, chữa bệnh khẩn cấp tại địa điểm ngoài phạm vi cư trú có thể đề nghị Công an cấp xã nơi khám bệnh, chữa bệnh tiến hành tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử. Công an cấp xã sau khi thực hiện tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử phải báo cho Công an cấp xã nơi thực hiện biện pháp giám sát điện tử biết.

Tình huống 13: Tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử đối với người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng bị tạm giữ hình sự, tạm giam

Anh Nguyễn Văn A đang bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử do Công an xã X thực hiện. Ngày 10/9/2026, A bị áp dụng quyết định tạm giữ hình sự. Địa điểm thi hành quyết định tạm giữ là Nhà tạm giữ Y, thuộc địa bàn của Công an xã Y, ngoài phạm vi địa bàn của Công an xã X. Để bảo đảm yêu cầu công tác, Cơ quan thi hành quyết định tạm giữ đề nghị Công an xã Y tiến hành tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử đang đeo trên người A. Trong trường hợp này, Công an xã Y có được tiến hành tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử cho anh A không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, trường hợp địa điểm thi hành quyết định tạm giữ hình sự, tạm giam ở ngoài phạm vi địa bàn của Công an cấp xã nơi đang thực hiện biện pháp giám sát điện tử, để bảo đảm yêu cầu công tác, cơ quan thi hành quyết định tạm giữ, tạm giam có thể đề nghị Công an cấp xã nơi thi hành quyết định tạm giữ, tạm giam tiến hành tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử.

Trong tình huống trên, Công an xã X là nơi thực hiện giám sát điện tử, còn Nhà tạm giữ Y thuộc địa bàn Công an xã Y. Vì vậy, Cơ quan thi hành quyết định tạm giữ có thể đề nghị Công an xã Y tiến hành tháo tạm thời thiết bị cho anh A. Sau khi tháo thiết bị, Công an xã Y phải báo cho Công an xã X biết.

Tình huống 14: Thực hiện việc tháo tạm thời và đeo lại thiết bị giám sát điện tử đối với người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

Anh Nguyễn Văn A đang bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử tại xã X.

Ngày 12/9/2026, do phải thực hiện khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, anh A được tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử. Cán bộ Công an xã X tiến hành tháo thiết bị cho anh A nhưng chỉ ghi nhận việc tháo thiết bị trong sổ theo dõi, không lập biên bản riêng. Sau khi hoàn thành việc khám, chữa bệnh, anh A trở về và được cán bộ Công an xã X đeo lại thiết bị giám sát điện tử. Tuy nhiên, cán bộ chỉ cập nhật thông tin vào hồ sơ quản lý mà không lập biên bản về việc đeo lại thiết bị. Việc tháo tạm thời và đeo lại thiết bị giám sát điện tử đối với anh A trong tình huống trên phải được lập biên bản như thế nào?

Trả lời: 

Theo khoản 2 Điều 19 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định:

“2. Việc tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử phải lập biên bản theo Mẫu số 07 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.

Việc đeo lại thiết bị giám sát điện tử đối với người được tháo tạm thời phải lập biên bản theo Mẫu số 08 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.”.

Việc tháo tạm thời và đeo lại thiết bị giám sát điện tử đều phải được lập biên bản theo mẫu quy định.

Đối với việc tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử, phải lập biên bản theo Mẫu số 07 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định.

Đối với việc đeo lại thiết bị giám sát điện tử sau khi được tháo tạm thời, phải lập biên bản theo Mẫu số 08 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định.

Trong tình huống trên, cán bộ Công an xã X chỉ ghi nhận vào sổ theo dõi mà không lập biên bản theo Mẫu số 07 khi tháo thiết bị và không lập biên bản theo Mẫu số 08 khi đeo lại thiết bị là chưa thực hiện đúng yêu cầu về lập biên bản.

Do đó, trong mỗi lần thực hiện tháo tạm thời hoặc đeo lại thiết bị giám sát điện tử, cán bộ có trách nhiệm phải lập đúng loại biên bản, đúng mẫu theo quy định.

Tình huống 15: Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong thực hiện biện pháp giám sát điện tử đối với cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

Anh B đang thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và thuộc trường hợp phải áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Trưởng Công an cấp xã nơi anh B cư trú đã ban hành quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử và phân công cán bộ trực tiếp quản lý, theo dõi. Trong thời gian thực hiện, anh B cho rằng việc quản lý, vận hành hệ thống giám sát điện tử là trách nhiệm của Công an cấp xã nên Bộ Công an, Công an cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức khác không có trách nhiệm liên quan. Mặt khác, khi anh B đến một địa điểm có kiểm soát an ninh, nhân viên yêu cầu anh tháo thiết bị giám sát điện tử để kiểm tra.

Pháp luật quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức như thế nào trong thực hiện biện pháp giám sát điện tử? Khi kiểm soát an ninh, cơ quan, tổ chức có được yêu cầu anh tháo thiết bị hay không?

Trả lời: 

Theo Điều 22 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định: 

“ Điều 22. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong thực hiện biện pháp giám sát điện tử

1. Bộ Công an có trách nhiệm quản lý, vận hành, theo dõi hoạt động của hệ thống giám sát điện tử trên phạm vi toàn quốc.

2. Công an cấp tỉnh có trách nhiệm quản lý, theo dõi hoạt động của hệ thống giám sát điện tử trên phạm vi cấp tỉnh.

3. Công an cấp xã có trách nhiệm quản lý, sử dụng thiết bị giám sát điện tử trên phạm vi cấp xã; ra quyết định và trực tiếp thực hiện biện pháp giám sát điện tử đối với người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy và người đang điều trị nghiện bằng thuốc thay thế cư trú trên địa bàn.

4. Cơ sở cai nghiện ma túy, trường giáo dưỡng có trách nhiệm tổ chức thi hành Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử theo quy định tại khoản 4 Điều 17 của Nghị định này.

5. Các cơ quan, tổ chức thực hiện việc kiểm soát an ninh không bắt buộc người bị giám sát điện tử phải tháo thiết bị giám sát điện tử nếu việc đeo thiết bị không ảnh hưởng đến an ninh, an toàn.”.

Như vậy, anh B hiểu rằng chỉ Công an cấp xã mới có trách nhiệm trong việc giám sát điện tử là chưa đầy đủ. Pháp luật đã phân định trách nhiệm theo từng cấp, từ Bộ Công an, Công an cấp tỉnh đến Công an cấp xã; đồng thời quy định trách nhiệm của cơ sở cai nghiện ma túy, trường giáo dưỡng và các cơ quan, tổ chức thực hiện kiểm soát an ninh. Đối với yêu cầu tháo thiết bị của nhân viên kiểm soát an ninh, không phải mọi trường hợp đều được yêu cầu anh B tháo thiết bị. Nếu việc anh B đeo thiết bị giám sát điện tử không ảnh hưởng đến an ninh, an toàn, cơ quan, tổ chức thực hiện kiểm soát an ninh không bắt buộc anh B phải tháo thiết bị. Quy định này nhằm bảo đảm việc giám sát điện tử được thực hiện liên tục, đồng thời hạn chế những ảnh hưởng không cần thiết đến người đang chấp hành biện pháp giám sát. 

Tình huống 16: Quyền của người bị giám sát điện tử 

Anh A là người cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và thuộc trường hợp được áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Khi thực hiện biện pháp này, anh A chưa được giải thích đầy đủ về các quy định phải chấp hành và chế tài nếu vi phạm. Anh cũng chưa được hướng dẫn cụ thể về tính năng, tác dụng, cách sử dụng thiết bị giám sát điện tử. Trong quá trình sử dụng, do có lý do chính đáng, anh A muốn đề nghị tháo tạm thời hoặc thay đổi vị trí đeo thiết bị trên cơ thể.

Theo quy định của pháp luật, người bị giám sát điện tử có những quyền gì và anh có được đề nghị tháo tạm thời hoặc thay đổi vị trí đeo thiết bị hay không?

Trả lời:

Theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định:

“Điều 23. Quyền và nghĩa vụ của người bị giám sát điện tử

1. Quyền của người bị giám sát điện tử:

a) Được phổ biến, quán triệt về quy định, chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm về biện pháp giám sát điện tử;

b) Được tư vấn, hướng dẫn về tính năng, tác dụng và cách sử dụng thiết bị giám sát điện tử;

c) Đề nghị Công an cấp xã tháo tạm thời, thay đổi vị trí đeo thiết bị giám sát điện tử trên cơ thể theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 19 của Nghị định này.”.

Người bị giám sát điện tử có các quyền sau như được phổ biến, quán triệt về quy định và chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm về biện pháp giám sát điện tử; được tư vấn, hướng dẫn về tính năng, tác dụng và cách sử dụng thiết bị giám sát điện tử; được đề nghị Công an cấp xã tháo tạm thời hoặc thay đổi vị trí đeo thiết bị giám sát điện tử trên cơ thể. Người bị giám sát có quyền đưa ra đề nghị này, nhưng việc tháo tạm thời hoặc thay đổi vị trí đeo thiết bị không được tự ý thực hiện mà phải được thực hiện theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 19 Nghị định 163/2026/NĐ-CP. Như vậy, anh A hoàn toàn có các quyền nêu trên. Người bị giám sát điện tử không chỉ có nghĩa vụ chấp hành biện pháp giám sát mà còn được pháp luật bảo đảm quyền được phổ biến quy định và chế tài; được tư vấn, hướng dẫn sử dụng thiết bị; và được đề nghị Công an cấp xã tháo tạm thời hoặc thay đổi vị trí đeo thiết bị theo quy định.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng quyền đề nghị không đồng nghĩa với quyền tự ý tháo hoặc thay đổi thiết bị. Người bị giám sát phải thực hiện đề nghị và chờ việc xử lý của Công an cấp xã theo đúng quy định pháp luật.

Tình huống 17: Nghĩa vụ của người bị giám sát điện tử 

Anh E đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và được áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Trong thời gian thực hiện, anh E thường xuyên không chấp hành các yêu cầu liên quan đến việc sử dụng thiết bị, có lần tự ý tháo thiết bị vì cho rằng bất tiện, đồng thời không thông báo kịp thời khi thiết bị gặp sự cố. Anh E cho rằng mình chỉ cần thực hiện việc cai nghiện, còn thiết bị giám sát là trách nhiệm của cơ quan Công an. Người bị giám sát điện tử phải thực hiện những nghĩa vụ gì?

Trả lời:

Theo khoản 2 Điều 23 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định:

“Điều 23. Quyền và nghĩa vụ của người bị giám sát điện tử

2. Nghĩa vụ của người bị giám sát điện tử:

a) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử của cơ quan có thẩm quyền;

b) Cam kết tuân thủ quy định giám sát điện tử;

c) Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi phát hiện thiết bị giám sát điện tử hư hỏng; phụ kiện kèm theo thiết bị giám sát điện tử bị hư hỏng, mất thì phải báo cho Công an cấp xã để xử lý;

d) Đền bù thiệt hại vật chất đối với thiết bị, phụ kiện kèm theo nếu việc hư hỏng, mất thiết bị, phụ kiện kèm theo do lỗi của người bị giám sát.”.

Người bị giám sát điện tử có các nghĩa vụ phải thực hiện trong quá trình áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Việc chấp hành nghĩa vụ về giám sát điện tử là trách nhiệm của chính người được áp dụng biện pháp này, bên cạnh việc thực hiện các nội dung của quá trình cai nghiện. Người bị giám sát cần chấp hành đúng quy định về giám sát điện tử; sử dụng, giữ gìn và bảo quản thiết bị theo hướng dẫn; không tự ý tháo, làm hư hỏng, thay đổi hoặc can thiệp vào thiết bị; đồng thời thực hiện các yêu cầu hợp pháp của cơ quan có thẩm quyền. Nếu phát sinh vấn đề như thiết bị bị hỏng, cần tháo tạm thời hoặc cần thay đổi vị trí đeo, người bị giám sát phải kịp thời thông báo, đề nghị Công an cấp xã giải quyết theo đúng quy định, không tự ý xử lý.

Qua đó, người bị giám sát điện tử vừa phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong quá trình cai nghiện, vừa phải nghiêm túc chấp hành các quy định về biện pháp giám sát điện tử; trường hợp vi phạm thì có thể bị xử lý theo quy định pháp luật.

Tình huống 18: Hành vi vi phạm quy định về giám sát điện tử 

Anh A là người cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và thuộc trường hợp được áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Sau khi được phổ biến, hướng dẫn về việc quản lý, sử dụng thiết bị, anh A vẫn không nghiêm túc chấp hành.

Trong quá trình thực hiện, có lần anh A không đeo thiết bị theo quy định; khi được yêu cầu tiếp tục đeo, anh tự ý tháo thiết bị vì cho rằng thiết bị gây bất tiện trong sinh hoạt. Có thời điểm anh cố ý không sạc pin khiến thiết bị hết pin trong thời gian 24 giờ mà không có lý do chính đáng. Anh A còn dùng vật tác động vào thiết bị làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của thiết bị. Sau đó, anh A được Công an cấp xã cho phép tháo tạm thời thiết bị trong một khoảng thời gian nhất định. Khi hết thời gian được phép tháo, anh A không đến trình diện Công an cấp xã trong thời hạn 24 giờ để được đeo lại thiết bị mà tiếp tục sinh hoạt bình thường.

Các hành vi của anh A có vi phạm quy định về giám sát điện tử trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng không?

Trả lời:

Theo khoản 1 Điều 24 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định:

“Điều 24. Các hành vi vi phạm quy định về giám sát điện tử

1. Các hành vi vi phạm quy định về giám sát điện tử bao gồm:

a) Phá hủy, tác động làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của thiết bị giám sát điện tử và các phụ kiện kèm theo;

b) Không chấp hành việc đeo thiết bị giám sát điện tử;

c) Tự ý tháo thiết bị giám sát điện tử;

d) Cố ý để thiết bị giám sát điện tử hết pin trong thời hạn 24 giờ mà không có lý do chính đáng;

đ) Sau khi hết thời gian tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử, tạm dừng áp dụng biện pháp giám sát điện tử theo quy định mà không trình diện Công an cấp xã trong vòng 24 giờ để được đeo lại thiết bị giám sát điện tử theo quy định.”.

Các hành vi của anh A thuộc các trường hợp vi phạm quy định về giám sát điện tử được quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định 163/2026/NĐ-CP. Cụ thể, anh A đã thực hiện các hành vi:

- Không chấp hành việc đeo thiết bị giám sát điện tử theo quy định;

- Tự ý tháo thiết bị giám sát điện tử;

- Cố ý để thiết bị hết pin trong thời hạn 24 giờ mà không có lý do chính đáng;

- Tác động vào thiết bị làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của thiết bị;

- Sau khi hết thời gian được phép tháo tạm thời thiết bị, không trình diện Công an cấp xã trong thời hạn 24 giờ để được đeo lại thiết bị.

Như vậy, người bị giám sát điện tử phải nghiêm túc chấp hành các quy định về việc đeo, sử dụng, bảo quản và duy trì hoạt động của thiết bị. Không được tự ý tháo, phá hủy hoặc tác động làm ảnh hưởng đến thiết bị; không được cố ý để thiết bị hết pin; đồng thời phải trình diện đúng thời hạn sau khi hết thời gian được phép tháo tạm thời hoặc tạm dừng giám sát.

Tình huống 19: Chấm dứt áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

Anh Nguyễn Văn A đang thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử tại xã X. Ngày 01/9/2026, Trưởng Công an xã X ban hành Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với anh A với thời hạn 12 tháng, từ ngày 01/9/2026 đến hết ngày 31/8/2027. Ngày 15/3/2027, trong quá trình thực hiện cai nghiện, anh A tự nguyện đăng ký và được tiếp nhận vào cơ sở cai nghiện để tiếp tục thực hiện cai nghiện tập trung.

Sau khi nhận được thông tin về việc anh A chuyển sang cai nghiện tại cơ sở cai nghiện, cán bộ Công an xã X báo cáo Trưởng Công an xã để xử lý việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với anh A. Trong trường hợp anh A chuyển sang cai nghiện tại cơ sở cai nghiện khi thời hạn áp dụng biện pháp giám sát điện tử vẫn còn, Trưởng Công an xã X phải thực hiện như thế nào?

Trả lời: 

Theo khoản 4 Điều 20 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định:

“4. Trưởng Công an cấp xã ra Quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp giám sát điện tử theo Mẫu số 15 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này trong các trường hợp sau:

a) Hết thời hạn giám sát theo Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử;

b) Người bị giám sát điện tử đi cai nghiện tại cơ sở cai nghiện, trường giáo dưỡng;

c) Người bị giám sát điện tử không còn thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; điều trị nghiện ma túy bằng thuốc thay thế hoặc quản lý sau cai nghiện ma túy;

d) Người bị giám sát điện tử chết hoặc bị Tòa án tuyên bố mất tích.

Việc thi hành Quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp giám sát điện tử phải được lập biên bản theo Mẫu số 16 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.”.

Trong tình huống trên, anh A đang bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử nhưng ngày 15/3/2027 đã được tiếp nhận vào cơ sở cai nghiện để thực hiện cai nghiện.Do đó, mặc dù thời hạn ban đầu của quyết định giám sát điện tử vẫn còn đến ngày 31/8/2027, việc anh A chuyển sang cai nghiện tại cơ sở cai nghiện là căn cứ để chấm dứt áp dụng biện pháp giám sát điện tử.

Trưởng Công an xã X phải ban hành Quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp giám sát điện tử theo Mẫu số 15 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định.

Sau khi có quyết định chấm dứt, việc thi hành quyết định phải được lập biên bản theo Mẫu số 16 tại Phụ lục I. 

Tình huống 20: Xử lý khi người đang cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng thay đổi nơi cư trú

Anh A, 30 tuổi, đang thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và thuộc trường hợp phải áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Công an cấp xã nơi anh A đang cư trú đã ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử và đang trực tiếp quản lý, giám sát anh A. Sau một thời gian, anh A hoàn thành thủ tục thay đổi nơi cư trú và chuyển đến sinh sống tại một xã khác. Anh A cho rằng việc thay đổi nơi cư trú đồng nghĩa với việc Công an cấp xã nơi ở cũ không còn quản lý mình, nên không cần tiếp tục thực hiện biện pháp giám sát điện tử. Trong trường hợp này, việc giám sát điện tử được xử lý như thế nào? Anh có phải tiếp tục đeo thiết bị giám sát điện tử không?

Trả lời:

Theo khoản 2 Điều 21 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định:

“Điều 21. Xử lý trường hợp người bị giám sát điện tử vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú

2. Khi người bị giám sát điện tử thay đổi nơi cư trú, Công an cấp xã nơi chuyển đi bàn giao việc giám sát điện tử cho Công an cấp xã nơi chuyển đến trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm người bị giám sát điện tử hoàn thành thủ tục thay đổi nơi cư trú theo quy định để tiếp tục thực hiện giám sát, quản lý. Trưởng Công an cấp xã nơi người bị giám sát chuyển đến ra quyết định phân công cán bộ tiếp nhận và thực hiện biện pháp giám sát điện tử đối với thời hạn còn lại theo quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử của Trưởng Công an cấp xã nơi đối tượng chuyển đi theo Mẫu số 17 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.”.

Việc anh A thay đổi nơi cư trú không làm chấm dứt biện pháp giám sát điện tử nếu thời hạn áp dụng biện pháp này vẫn còn. Khi người bị giám sát điện tử thay đổi nơi cư trú:

- Công an cấp xã nơi chuyển đi có trách nhiệm bàn giao việc giám sát điện tử cho Công an cấp xã nơi chuyển đến;

- Việc bàn giao phải được thực hiện trong thời hạn 24 giờ, tính từ thời điểm người bị giám sát điện tử hoàn thành thủ tục thay đổi nơi cư trú theo quy định;

- Trưởng Công an cấp xã nơi người bị giám sát chuyển đến ra quyết định phân công cán bộ tiếp nhận và tiếp tục thực hiện biện pháp giám sát điện tử;

- Việc giám sát tại nơi mới được thực hiện đối với thời hạn còn lại theo quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử của Trưởng Công an cấp xã nơi người đó chuyển đi. 

Như vậy, trong tình huống trên, anh A vẫn phải tiếp tục chấp hành quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử trong thời hạn còn lại. Việc thay đổi nơi cư trú chỉ làm thay đổi cơ quan Công an cấp xã trực tiếp thực hiện việc giám sát, quản lý, chứ không tự động làm chấm dứt biện pháp giám sát điện tử.

Tác giả: CTV

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây