22 Tình huống pháp luật tuyên truyền về phòng, chống ma túy

Thứ hai - 02/11/2026 21:44 16 0
Theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy năm 2025; Nghị định 163/2026/NĐ-CP; Nghị định 166/2026/NĐ-CP

Tình huống 1:

Anh A, 25 tuổi, do sử dụng chất ma túy trong một thời gian dài nên cơ thể xuất hiện tình trạng lệ thuộc vào chất ma túy. Khi không sử dụng, A có biểu hiện khó chịu, mất ngủ và luôn có nhu cầu tiếp tục sử dụng.

Sau khi được gia đình động viên, A tự nguyện đến cơ sở có thẩm quyền để được hỗ trợ. Tại đây, A được hỗ trợ về y tế để dừng sử dụng chất ma túy, đồng thời được tư vấn tâm lý, giáo dục, hỗ trợ phục hồi thể chất và tinh thần. Trong quá trình này, A được hướng dẫn thay đổi nhận thức, hành vi nhằm chấm dứt việc sử dụng trái phép chất ma túy. Trong trường hợp này anh A có được xác định là người nghiện ma túy không? hoạt động mà A đang thực hiện có được coi là cai nghiện ma túy không?

Trả lời:

Tại khoản 11, khoản 12 Điều 2 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 quy định như sau: 

“11. Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này.

12. Cai nghiện ma túy là quá trình thực hiện các hoạt động hỗ trợ về y tế, tâm lý, xã hội, giúp người nghiện ma túy dừng sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần; phục hồi thể chất, tinh thần, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi để chấm dứt việc sử dụng trái phép các chất này.”.

Trong tình huống trên, A đã sử dụng chất ma túy trong thời gian dài và có tình trạng lệ thuộc vào chất ma túy, thể hiện qua việc khi không sử dụng thì xuất hiện các biểu hiện bất thường và có nhu cầu tiếp tục sử dụng. Vì vậy, A thuộc trường hợp người nghiện ma túy.

Việc A đang thực hiện là cai nghiện ma túy do anh được hỗ trợ y tế, tư vấn tâm lý, phục hồi thể chất và tinh thần, giáo dục và thay đổi hành vi để chấm dứt việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Cai nghiện ma túy không chỉ đơn thuần là ngừng sử dụng chất ma túy mà là một quá trình thực hiện các hoạt động hỗ trợ về y tế, tâm lý và xã hội, nhằm giúp người nghiện: Dừng sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần; phục hồi thể chất và tinh thần; nâng cao nhận thức; thay đổi hành vi; chấm dứt việc sử dụng trái phép các chất này.

Có sự lệ thuộc vào chất ma túy thì được xác định là người nghiện ma túy. Thực hiện các hoạt động hỗ trợ y tế, tâm lý, xã hội để dừng sử dụng, phục hồi và thay đổi hành vi thì được xác định là cai nghiện ma túy.

Tình huống 2: 

Anh A sau khi hoàn thành thời gian cai nghiện ma túy trở về sinh sống cùng gia đình tại địa phương. Biết A có nguy cơ tái nghiện, gia đình thường xuyên động viên, giúp đỡ A ổn định cuộc sống, tìm việc làm và tránh xa những người có liên quan đến ma túy. Trong thời gian này, gia đình phát hiện một người quen của A có biểu hiện liên quan đến việc sử dụng trái phép chất ma túy. Gia đình đã phối hợp, cung cấp thông tin cho cơ quan chức năng, đồng thời quản lý, nhắc nhở A không tiếp xúc với các hoạt động liên quan đến ma túy. Gia đình cũng tích cực phối hợp với chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ người nghiện tham gia cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc tại cơ sở cai nghiện ma túy, cũng như hỗ trợ người sau cai nghiện ổn định cuộc sống và hòa nhập với cộng đồng. Theo quy định hiện hành, gia đình A có những trách nhiệm gì trong tình huống trên?

Trả lời:

Tại khoản 3 Điều 6 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 quy định về trách nhiệm của cá nhân, gia đình và cộng đồng: 

“3. Hợp tác với cơ quan chức năng trong đấu tranh với tội phạm và tệ nạn ma túy; quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; tham gia hỗ trợ hoạt động cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện ma túy và điều trị nghiện bằng thuốc thay thế; theo dõi, giúp đỡ người sau cai nghiện ma túy hòa nhập cộng đồng; phòng, chống tái nghiện ma túy.”.

Trong tình huống trên, gia đình A có trách nhiệm:

Thứ nhất, hợp tác với cơ quan chức năng trong đấu tranh với tội phạm và tệ nạn ma túy: Gia đình A đã cung cấp thông tin và phối hợp với cơ quan chức năng khi phát hiện dấu hiệu liên quan đến ma túy. Đây là trách nhiệm hợp tác của cá nhân, gia đình và cộng đồng trong công tác phòng, chống ma túy.

Thứ hai, quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy: Gia đình thường xuyên quan tâm, quản lý, nhắc nhở A tránh xa ma túy và những người có nguy cơ lôi kéo A sử dụng ma túy. Việc này góp phần hạn chế nguy cơ tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy.

Thứ ba, tham gia hỗ trợ hoạt động cai nghiện ma túy: Gia đình phối hợp với địa phương hỗ trợ người nghiện tham gia cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc tại cơ sở cai nghiện ma túy; đồng thời có thể tham gia hỗ trợ việc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế theo quy định.

Thứ tư, theo dõi, giúp đỡ người sau cai nghiện hòa nhập cộng đồng: Sau khi A hoàn thành cai nghiện, gia đình tiếp tục động viên, hỗ trợ A ổn định cuộc sống, tìm việc làm và hòa nhập với cộng đồng. Đây là trách nhiệm quan trọng nhằm giúp người sau cai nghiện có điều kiện ổn định cuộc sống.

Thứ năm, phòng, chống tái nghiện ma túy: Gia đình thường xuyên quan tâm, động viên và giúp A tránh xa môi trường, đối tượng có nguy cơ liên quan đến ma túy, qua đó góp phần phòng ngừa tái nghiện.

Tình huống 3: 

Anh A, 28 tuổi, được xác định là người nghiện ma túy. Sau khi được gia đình vận động, anh A tự nguyện đăng ký cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân. Cơ sở này tổ chức cho anh A thực hiện đầy đủ thời hạn và quy trình cai nghiện ma túy theo quy định của pháp luật. Theo quy định của pháp luật, có bao nhiêu hình thức cai nghiện ma túy? Trường hợp của anh A thuộc hình thức cai nghiện ma túy nào?

Trả lời:

Theo Điều 30 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 quy định hình thức cai nghiện ma túy gồm:

“1. Cai nghiện ma túy tự nguyện bao gồm:

a) Cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng phải thực hiện đầy đủ thời hạn, quy trình cai nghiện ma túy quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 29 của Luật này;

b) Cai nghiện ma túy tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma túy công lập, trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện ma túy công lập đủ điều kiện thực hiện cai nghiện ma túy cho người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi phải thực hiện đầy đủ thời hạn, quy trình cai nghiện ma túy quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 29 của Luật này;

c) Cai nghiện ma túy tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân thực hiện đầy đủ thời hạn, quy trình cai nghiện ma túy quy định tại Điều 29 của Luật này;

d) Cai nghiện ma túy tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân thực hiện ít nhất đủ 03 giai đoạn quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều 29 của Luật này, thời hạn và các giai đoạn còn lại phải tiếp tục thực hiện tại gia đình, cộng đồng.

2. Cai nghiện ma túy bắt buộc bao gồm:

a) Cai nghiện ma túy bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy công lập cho người từ đủ 18 tuổi trở lên thực hiện đầy đủ thời hạn, quy trình cai nghiện ma túy quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 29 của Luật này;

b) Cai nghiện ma túy bắt buộc tại trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện ma túy công lập đủ điều kiện thực hiện cai nghiện ma túy cho người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện đầy đủ thời hạn, quy trình cai nghiện ma túy quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 29 của Luật này.”.

Trong tình huống trên, anh A tự nguyện đăng ký cai nghiện và lựa chọn thực hiện tại cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân. Đồng thời, anh A thực hiện đầy đủ thời hạn và quy trình cai nghiện theo Điều 29 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025. Do đó, anh A thuộc trường hợp cai nghiện ma túy tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân.

Tình huống 4:

Anh A, 28 tuổi, được xác định là người nghiện ma túy. Nhận thức được tác hại của ma túy và mong muốn chấm dứt việc sử dụng trái phép chất ma túy, A tự nguyện đăng ký cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng. Sau khi A đăng ký, quá trình cai nghiện được thực hiện tại nơi A sinh sống. A nhận được sự hỗ trợ chuyên môn của tổ chức cung cấp dịch vụ cai nghiện ma túy; gia đình thường xuyên động viên, chăm sóc và phối hợp với chính quyền địa phương. Cộng đồng nơi A sinh sống cũng tạo điều kiện để A ổn định cuộc sống trong thời gian cai nghiện. Trong quá trình này, Ủy ban nhân dân xã và Công an xã thực hiện việc quản lý A theo quy định của pháp luật. A thực hiện các việc trên có phải là cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng không? Ai là người tham gia hỗ trợ, phối hợp và quản lý A trong quá trình cai nghiện?

Trả lời: 

Tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 về cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và cộng đồng quy định: 

“1. Cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng là việc người nghiện ma túy tự nguyện đăng ký cai nghiện tại gia đình, cộng đồng với sự hỗ trợ chuyên môn của tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ cai nghiện ma túy, sự phối hợp, trợ giúp của gia đình, cộng đồng và chịu sự quản lý của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã.”.

Trong trường hợp trên, anh A thuộc trường hợp cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng do A đã tự nguyện đăng ký cai nghiện, có sự hỗ trợ chuyên môn từ tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ cai nghiện ma túy, có sự phối hợp, trợ giúp của gia đình và cộng đồng và anh A chịu sự quản lý của Ủy ban nhân dân xã và Công an xã. 

Những người tham gia hỗ trợ, phối hợp và quản lý A trong quá trình cai nghiện bao gồm:

Một là, bản thân A: A là người nghiện ma túy và tự nguyện đăng ký cai nghiện tại gia đình, cộng đồng.

Hai là, tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ cai nghiện ma túy: Có trách nhiệm hỗ trợ chuyên môn cho A trong quá trình cai nghiện.

Ba là, gia đình: Phối hợp, trợ giúp, động viên và tạo điều kiện để A thực hiện quá trình cai nghiện.

Bốn là, cộng đồng: Phối hợp, trợ giúp A trong quá trình cai nghiện tại nơi cư trú.

Năm là, Ủy ban nhân dân cấp xã và Công an cấp xã: Thực hiện quản lý A trong thời gian cai nghiện theo quy định.

Tình huống 5: Thực hiện đầy đủ thời hạn, quy trình tại gia đình, cộng đồng

Ngày 05/7/2026, Anh A (30 tuổi) được xác định là người nghiện ma túy và tự nguyện đăng ký cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng. Ngày 01/8/2026, Công an cấp xã lập biên bản tiếp nhận đăng ký cai nghiện ma túy của A. A thực hiện đầy đủ thời hạn và quy trình cai nghiện ma túy theo quy định tại Điều 29 Luật Phòng, chống ma túy và không thực hiện cai nghiện tại cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân trước đó. Thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng của A được tính từ thời điểm nào?

Trả lời: 

Theo điểm a khoản 2 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 về thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng quy định:

“2. Thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng được tính như sau:

a) Trường hợp người cai nghiện ma túy thực hiện cai nghiện đầy đủ thời hạn, quy trình quy định tại Điều 29 của Luật này thì thời hạn được tính kể từ ngày Công an cấp xã lập biên bản tiếp nhận đăng ký cai nghiện ma túy;”.

Trường hợp anh A thực hiện đầy đủ thời hạn cai nghiện ma túy theo quy định (đối với người cai nghiện ma túy lần đầu là 24 tháng, đối với người cai nghiện ma túy từ lần thứ hai trở lên là 36 tháng); thực hiện đầy đủ quy trình tiếp nhận, phân loại; điều trị cắt cơn, giải độc, rối loạn tâm thần và các bệnh lý khác; giáo dục, tư vấn, phục hồi hành vi, nhân cách; lao động trị liệu, học nghề; chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng thì thời hạn cai nghiện được tính kể từ ngày Công an cấp xã lập biên bản tiếp nhận đăng ký cai nghiện ma túy.

Công an cấp xã lập biên bản tiếp nhận đăng ký của A vào ngày 01/8/2026. Do vậy, thời hạn cai nghiện của A được tính từ ngày 01/8/2026.

Tình huống 6: Đã cai nghiện tại cơ sở tư nhân nhưng chưa đủ thời hạn, quy trình

Anh B, 32 tuổi, tự nguyện đăng ký cai nghiện ma túy tại một cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân. Tại đây, B đã hoàn thành 03 giai đoạn cai nghiện theo các điểm a, b và c khoản 2 Điều 29 nhưng chưa hoàn thành đầy đủ thời hạn và quy trình cai nghiện theo quy định. Sau đó, B trở về địa phương để tiếp tục cai nghiện tại gia đình, cộng đồng. Ngày 10/8/2026, Công an cấp xã lập biên bản tiếp nhận đăng ký cai nghiện ma túy của B. Thời hạn cai nghiện còn lại của B được tính từ ngày nào? B có phải tiếp tục cai nghiện tại gia đình, cộng đồng không?

Trả lời:

Theo điểm b khoản 2 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 về thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng quy định:

“2. Thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng được tính như sau:

…

b) Trường hợp người cai nghiện ma túy thực hiện cai nghiện tại cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân mà đã hoàn thành ít nhất 03 giai đoạn quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều 29 của Luật này nhưng chưa hoàn thành thời hạn, quy trình quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 29 của Luật này, thì thời hạn cai nghiện còn lại được tính kể từ ngày Công an cấp xã lập biên bản tiếp nhận đăng ký cai nghiện ma túy. Trong trường hợp này, người cai nghiện ma túy phải tiếp tục thực hiện cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng theo thời gian, quy trình còn lại cho đến khi đủ thời hạn, quy trình quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 29 của Luật này.”.

Trường hợp trên, anh B đã thực hiện cai nghiện tại cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân, hoàn thành ít nhất 03 giai đoạn theo quy định nhưng chưa hoàn thành đầy đủ thời hạn, quy trình cai nghiện, thì: Thời hạn cai nghiện còn lại được tính kể từ ngày Công an cấp xã lập biên bản tiếp nhận đăng ký cai nghiện ma túy; người cai nghiện phải tiếp tục thực hiện cai nghiện tại gia đình, cộng đồng; việc cai nghiện tiếp tục được thực hiện theo thời gian và quy trình còn lại cho đến khi đủ thời hạn, quy trình theo Điều 29 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025. 

Trong tình huống trên, Công an cấp xã lập biên bản tiếp nhận đăng ký của B vào ngày 10/8/2026. Thời hạn cai nghiện còn lại của B được tính từ ngày 10/8/2026. Anh B phải tiếp tục cai nghiện tại gia đình, cộng đồng cho đến khi hoàn thành đầy đủ thời hạn và quy trình theo Điều 29 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025.

Tình huống 7: Thủ tục đăng ký cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng

Anh A, 25 tuổi, cư trú tại phường X, được xác định là người nghiện ma túy. Anh A có nguyện vọng tự nguyện cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng, không đăng ký cai nghiện tại cơ sở cai nghiện. Anh A cho rằng mình đã tự nguyện cai nghiện tại nhà, có gia đình hỗ trợ nên không cần làm thủ tục đăng ký với Công an cấp xã và không cần ký cam kết. Quan điểm của anh A có đúng không? Anh A có trách nhiệm gì khi lựa chọn cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng?

Trả lời: 

Theo khoản 4 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 về cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng quy định:

“Điều 32. Cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

4. Người cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng có trách nhiệm đăng ký cai nghiện ma túy với Công an cấp xã và cam kết bằng văn bản về việc chấp hành nghiêm chỉnh các biện pháp quản lý, giám sát. Trường hợp người cai nghiện ma túy là người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi thì văn bản cam kết có xác nhận của cha, mẹ, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp của họ.”.

Như vậy, việc cai nghiện tại gia đình, cộng đồng tuy mang tính tự nguyện về lựa chọn hình thức cai nghiện, nhưng sau khi lựa chọn hình thức này thì người cai nghiện vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ pháp lý, phải đăng ký, cam kết và chịu sự quản lý của Công an cấp xã. Do đó, anh A không thể chỉ tự cai nghiện tại nhà mà bỏ qua thủ tục đăng ký và cam kết.

Tình huống 8: Nhiệm vụ, quyền hạn của công an cấp xã trong việc quản lý người cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

Anh A, 25 tuổi, cư trú tại phường X, là người nghiện ma túy. Anh A có nguyện vọng cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và thực hiện đăng ký cai nghiện với Công an phường X. Sau khi tiếp nhận đăng ký, Trưởng Công an phường X thực hiện các hoạt động quản lý đối với anh A trong thời gian cai nghiện. Trong quá trình này, Trưởng Công an phường lập biên bản tiếp nhận đăng ký cai nghiện; quản lý cư trú của anh A, yêu cầu anh A có mặt khi cần thiết, thực hiện xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể và áp dụng các biện pháp giám sát theo quy định. Trường hợp anh A có biểu hiện gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, Công an phường tiến hành các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn theo thẩm quyền. Sau khi anh A hoàn thành việc cai nghiện theo quy định, Trưởng Công an phường X cấp giấy xác nhận hoàn thành cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Đồng thời, Trưởng Công an phường định kỳ báo cáo UBND phường về tình hình quản lý người cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng trên địa bàn. Các hoạt động trên có thuộc trách nhiệm của Trưởng Công an phường trong việc quản lý người cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng không? 

Trả lời:

Theo khoản 5 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 quy định Trưởng Công an cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng:

“Điều 32. Cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

5. Trưởng Công an cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Lập biên bản tiếp nhận đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng;

b) Thực hiện quản lý cư trú; triệu tập; giám sát điện tử; xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể; phòng ngừa, ngăn chặn hành vi gây mất an ninh, trật tự của người đang cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng;

c) Cấp giấy xác nhận hoàn thành cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng;

d) Định kỳ báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc báo cáo theo yêu cầu về công tác quản lý người cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng.”.

Trong tình huống này, việc Trưởng Công an phường X thực hiện các hoạt động nêu trên là thuộc thẩm quyền theo quy định pháp luật. Mặc dù người nghiện tự nguyện lựa chọn hình thức cai nghiện tại gia đình, cộng đồng, nhưng không có nghĩa là người đó được miễn các biện pháp quản lý, giám sát của cơ quan có thẩm quyền. Sau khi anh A hoàn thành cai nghiện theo quy định, Trưởng Công an phường X là người có thẩm quyền cấp giấy xác nhận hoàn thành cai nghiện cho anh A và định kỳ báo cáo UBND xã về tình hình quản lý người cai nghiện là đúng nhiệm vụ được luật quy định.

Tình huống 9: Trách nhiệm của Giám đốc Công an tỉnh trong việc cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng

Trên địa bàn tỉnh X, có nhiều người nghiện ma túy đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Để bảo đảm công tác cai nghiện được thực hiện thống nhất, đúng quy định, Giám đốc Công an tỉnh X chỉ đạo Công an cấp xã triển khai việc tiếp nhận, quản lý, giám sát người cai nghiện. Trong quá trình thực hiện, Công an tỉnh X phát hiện một số xã chưa thực hiện đầy đủ việc quản lý người cai nghiện; một số tổ chức, cá nhân có nhu cầu cung cấp dịch vụ cai nghiện tại gia đình, cộng đồng nhưng chưa đăng ký với cơ quan có thẩm quyền. Giám đốc Công an tỉnh X có trách nhiệm như thế nào trong công tác cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng?

Trả lời:

Theo khoản 6 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025, Giám đốc Công an cấp tỉnh có trách nhiệm:

“Điều 32. Cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

 6. Giám đốc Công an cấp tỉnh có trách nhiệm sau đây:

a) Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra công tác cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng;

b) Tiếp nhận đăng ký và công bố danh sách tổ chức, cá nhân đủ điều kiện cung cấp dịch vụ cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng;

c) Thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã danh sách tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng.”.

Trong tình huống trên, việc Giám đốc Công an tỉnh X chỉ đạo Công an cấp xã, hướng dẫn việc thực hiện và kiểm tra công tác cai nghiện tại địa phương là trách nhiệm mang tính quản lý, chỉ đạo ở cấp tỉnh, khác với nhiệm vụ trực tiếp quản lý từng người cai nghiện của Trưởng Công an cấp xã theo khoản 5 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025. Sau khi tiếp nhận đăng ký và công bố danh sách tổ chức, cá nhân đủ điều kiện, Giám đốc Công an cấp tỉnh phải thông báo danh sách này cho cả hai cơ quan ở cấp xã: UBND cấp xã; Công an cấp xã.Việc này giúp cấp xã biết những tổ chức, cá nhân nào đủ điều kiện cung cấp dịch vụ để phối hợp quản lý, tổ chức cai nghiện cho người đăng ký.

Tình huống 10: Trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp tỉnh trong việc cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

Tại tỉnh X, số người nghiện ma túy có nhu cầu cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng ngày càng tăng. Qua rà soát, trên địa bàn tỉnh có một số đơn vị sự nghiệp công lập thuộc thẩm quyền của tỉnh có đủ điều kiện, năng lực để cung cấp dịch vụ cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Tuy nhiên, một số địa phương cấp xã phản ánh rằng việc tổ chức cung cấp dịch vụ cai nghiện còn gặp khó khăn do chưa được giao nhiệm vụ cụ thể cho đơn vị thực hiện và chưa được bố trí kinh phí hỗ trợ. Trước tình hình trên, Chủ tịch UBND tỉnh X yêu cầu các cơ quan chuyên môn rà soát, lựa chọn các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc thẩm quyền của tỉnh để thực hiện dịch vụ cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; đồng thời chỉ đạo xây dựng phương án bố trí kinh phí hỗ trợ công tác cai nghiện trên địa bàn tỉnh theo quy định. Chủ tịch UBND tỉnh X có trách nhiệm gì trong việc tổ chức cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng? Việc Chủ tịch UBND tỉnh giao nhiệm vụ cho đơn vị sự nghiệp công lập và bố trí kinh phí hỗ trợ công tác cai nghiện có phù hợp với quy định pháp luật không?

Trả lời:

Theo khoản 7 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có trách nhiệm trong việc cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng:

“Điều 32. Cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

7. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm sau đây:

a) Giao nhiệm vụ cho các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc thẩm quyền trên địa bàn cung cấp dịch vụ cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng;

b) Bố trí kinh phí hỗ trợ công tác cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng.”.

Trong tình huống trên, việc Chủ tịch UBND tỉnh X chỉ đạo rà soát, lựa chọn và giao nhiệm vụ cho các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc thẩm quyền cung cấp dịch vụ cai nghiện là phù hợp với quy định của pháp luật. Quy định này nhằm bảo đảm trên địa bàn có đơn vị thực hiện các dịch vụ chuyên môn hỗ trợ người nghiện ma túy cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Chủ tịch UBND tỉnh X chỉ đạo xây dựng phương án và bố trí kinh phí hỗ trợ công tác cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng là thực hiện đúng trách nhiệm được Luật giao.

Tình huống 11: Trách nhiệm của cơ sở cai nghiện ma túy

Anh A là người nghiện ma túy, đang cư trú tại xã X, tỉnh Y. Anh A đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng với Công an xã X. Để thực hiện quá trình cai nghiện, anh A lựa chọn sử dụng dịch vụ của Cơ sở cai nghiện ma túy A, là cơ sở đủ điều kiện cung cấp một số giai đoạn cai nghiện tại gia đình, cộng đồng. Cơ sở cai nghiện ma túy A tiếp nhận anh A để thực hiện các dịch vụ theo thỏa thuận. Trong quá trình cung cấp dịch vụ, cơ sở thực hiện các nội dung chuyên môn theo quy định. Sau một thời gian, anh A tự ý chấm dứt việc sử dụng dịch vụ và không tiếp tục thực hiện chương trình cai nghiện. Cơ sở cai nghiện ma túy A ghi nhận sự việc nhưng cho rằng đây là việc giữa cơ sở và anh A nên không cần thông báo cho Công an xã X. Cơ sở cai nghiện ma túy có những trách nhiệm gì khi cung cấp dịch vụ cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng? trường hợp người cai nghiện sử dụng dịch vụ, tự ý chấm dứt việc sử dụng dịch vụ hoặc hoàn thành dịch vụ thì cơ sở, tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ phải thực hiện nghĩa vụ gì và thông báo cho cơ quan nào, trong thời hạn bao lâu?

Trả lời: 

Theo khoản 8 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025, cơ sở cai nghiện ma túy, tổ chức, cá nhân đủ điều kiện cung cấp dịch vụ có trách nhiệm:

“Điều 32. Cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

8. Cơ sở cai nghiện ma túy, tổ chức, cá nhân đủ điều kiện cung cấp một hoặc nhiều giai đoạn cai nghiện theo quy trình cai nghiện ma túy quy định tại khoản 2 Điều 29 của Luật này được cung cấp dịch vụ cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và có trách nhiệm sau đây:

a) Tiếp nhận và tổ chức thực hiện cung cấp dịch vụ cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng;

b) Thực hiện đúng quy trình chuyên môn nghiệp vụ theo quy định của cơ quan có thẩm quyền;

c) Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi người cai nghiện ma túy sử dụng dịch vụ, tự ý chấm dứt việc sử dụng dịch vụ hoặc hoàn thành dịch vụ phải thông báo cho Công an cấp xã nơi người đó cư trú.”.

Trong tình huống trên, Cơ sở cai nghiện ma túy A là cơ sở đủ điều kiện, đã tiếp nhận anh A và cung cấp dịch vụ cai nghiện. Vì vậy, cơ sở có các trách nhiệm sau: phải tiếp nhận và tổ chức thực hiện việc cung cấp dịch vụ cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng cho anh A; phải thực hiện đúng quy trình chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của cơ quan có thẩm quyền; phải thông báo cho Công an cấp xã nơi anh A cư trú trong thời hạn 24 giờ kể từ khi xảy ra một trong các trường hợp: anh A sử dụng dịch vụ; anh A tự ý chấm dứt việc sử dụng dịch vụ; anh A hoàn thành dịch vụ. Việc anh A đã tự ý chấm dứt việc sử dụng dịch vụ và không tiếp tục thực hiện chương trình cai nghiện. Do đó, Cơ sở cai nghiện ma túy A bắt buộc phải thông báo cho Công an xã X  nơi anh A cư trú trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm anh A tự ý chấm dứt việc sử dụng dịch vụ.

Tình huống 12: Cai nghiện ma túy tự nguyện bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc trong trường hợp nào?

Anh A, 25 tuổi, là người nghiện ma túy, cư trú tại xã X, tỉnh Y. Anh A đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và cam kết thực hiện nghiêm túc chương trình cai nghiện theo quy định. Trong thời gian cai nghiện, anh A nhiều lần không thực hiện các nội dung cai nghiện đã đăng ký và sau đó tự ý chấm dứt việc cai nghiện, mặc dù Công an xã X đã yêu cầu anh A tiếp tục thực hiện việc cai nghiện theo quy định. Sau đó, anh A tiếp tục được xác định là người nghiện ma túy. Anh A không thuộc trường hợp phải xử lý về hình sự. Trong trường hợp trên, anh A có thể bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc không? Nếu có thì những trường hợp nào người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đang hoặc được yêu cầu cai nghiện tự nguyện có thể bị áp dụng biện pháp này theo quy định của pháp luật?

Trả lời:

Theo điểm a, điểm b khoản 1 Điều 35 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 quy định:

“Điều 35: Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc 

1. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính nếu không thuộc trường hợp bị xử lý theo quy định của pháp luật về hình sự, khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 33 của Luật này;

b) Trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy;”

Đối với tình huống trên Anh A đã đăng ký cai nghiện tự nguyện nhưng sau đó không thực hiện và tự ý chấm dứt cai nghiện. Trong quá trình đang thực hiện cai nghiện tự nguyện nhiều lần bị phát hiện sử dụng chất ma túy. Vì vậy, anh A thuộc trường hợp có thể bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc theo điểm a, điểm b khoản 1 Điều 35 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025, trên cơ sở thực hiện đúng trình tự, thủ tục và các điều kiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Tình huống 12:  Người đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện trường hợp nào bị áp dụng cai nghiện ma túy bắt buộc 

Em A, 16 tuổi, cư trú tại xã X, tỉnh Y, được xác định là người nghiện ma túy. Gia đình đã phối hợp với Công an xã X để thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng cho em A. Trong thời gian cai nghiện, em A không chấp hành các nội dung cai nghiện đã đăng ký và sau đó tự ý chấm dứt việc cai nghiện tự nguyện, đồng thời, trong thời gian thực hiện cai nghiện tự nguyện, em A bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Một thời gian sau, cơ quan có thẩm quyền tiếp tục xác định em A là người nghiện ma túy. Em A không thuộc trường hợp bị xử lý theo quy định của pháp luật về hình sự. Em A có bị đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc không? Theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy năm 2025, người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi bị đưa đi cai nghiện bắt buộc trong những trường hợp nào?

Trả lời:

Theo điểm a, điểm b khoản 1 Điều 36 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 về cai nghiện ma túy bắt buộc cho người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi quy định như sau:

“Điều 36. Cai nghiện ma túy bắt buộc cho người đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi

1. Người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi bị đưa đi cai nghiện bắt buộc nếu không thuộc trường hợp bị xử lý theo quy định của pháp luật về hình sự khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 33 của Luật này;

b) Trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy;”.

Trong trường hợp trên, em A 16 tuổi, là người nghiện ma túy và không thuộc trường hợp bị xử lý theo quy định của pháp luật về hình sự. Trong quá trình cai nghiện tự nguyện, em A không chấp hành việc cai nghiện đã đăng ký và tự ý chấm dứt cai nghiện tự nguyện và trong thời gian cai nghiện tự nguyện, em A bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy.

Như vậy, em A thuộc trường hợp bị đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 36 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025.

Tình huống 13: Nghĩa vụ của người cai nghiện ma túy, người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

Anh A, 25 tuổi, cư trú tại xã X, tỉnh Y, được xác định là người nghiện ma túy. Anh A đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo quy định. Trong thời gian cai nghiện, Trưởng Công an xã X ban hành quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với anh A. Anh A được giải thích về trách nhiệm phải chấp hành quyết định giám sát điện tử, không được tự ý tháo gỡ, phá hủy hoặc có tác động làm ảnh hưởng đến hoạt động của thiết bị. Tuy nhiên, anh A không chấp hành việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử, không thực hiện theo quyết định của Trưởng Công an xã X và tiếp tục từ chối chấp hành biện pháp này. Trong trường hợp trên, anh A có bị đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc không? Người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế không chấp hành việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử thì bị xử lý như thế nào theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy năm 2025?

Trả lời:

Theo khoản 2 Điều 47 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 về xử lý trường hợp vi phạm nghĩa vụ của người cai nghiện ma túy, người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy hoặc người điều trị nghiện bằng thuốc thay thế quy định:

“Điều 47. Xử lý trường hợp vi phạm nghĩa vụ của người cai nghiện ma túy, người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy hoặc người điều trị nghiện bằng thuốc thay thế

2. Trong thời gian người nghiện ma túy cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế mà không chấp hành việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử thì bị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc.”.

Trong trường hợp trên anh A là người nghiện ma túy đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Trưởng Công an xã X đã áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với anh A và được yêu cầu chấp hành nhưng không chấp hành việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Do anh A không chấp hành việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử nên anh A bị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc do trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng đã không chấp hành việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử, theo khoản 2 Điều 47 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025.

Tình huống 14: Tiếp tục vi phạm pháp luật trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện

Anh A, 25 tuổi, cư trú tại xã X, tỉnh Y, được xác định là người nghiện ma túy. Anh A đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và đang thực hiện chương trình cai nghiện theo quy định. Trong thời gian cai nghiện, anh A thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Hành vi của anh A không thuộc trường hợp bị xử lý theo quy định của pháp luật về hình sự. Công an xã X đã xử lý hành vi vi phạm của anh A theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, đồng thời lập biên bản và tổ chức kiểm điểm anh A theo quy định tại khoản 3 Điều 47 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025. Sau khi được kiểm điểm, anh A tiếp tục thực hiện một hành vi vi phạm pháp luật thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu. Hành vi vi phạm lần này cũng không thuộc trường hợp bị xử lý theo quy định của pháp luật về hình sự.

Trong trường hợp trên, anh A có bị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc không? Người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng thực hiện hành vi thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu thì bị xử lý như thế nào khi tiếp tục vi phạm pháp luật?

Trả lời: 

Theo khoản 3 Điều 47 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 về xử lý trường hợp vi phạm nghĩa vụ của người cai nghiện ma túy, người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy hoặc người điều trị nghiện bằng thuốc thay thế quy định:

“3. Trong thời gian người nghiện ma túy cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế mà thực hiện một trong các hành vi thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thì ngoài việc xử lý theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, Công an cấp xã nơi người đó cư trú lập biên bản, tổ chức kiểm điểm. Nếu tiếp tục vi phạm pháp luật mà không thuộc trường hợp bị xử lý theo quy định của pháp luật về hình sự thì bị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc.”.

Trong tình huống trên, anh A đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Lần vi phạm thứ nhất anh A thực hiện hành vi thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu. Do đó, ngoài việc xử lý hành vi vi phạm theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, Công an xã X phải lập biên bản và tổ chức kiểm điểm anh A. Như vậy, việc lập biên bản và tổ chức kiểm điểm là biện pháp xử lý bổ sung trong lĩnh vực phòng, chống ma túy, được thực hiện bên cạnh việc xử lý hành vi vi phạm hành chính theo quy định tương ứng. Lần vi phạm tiếp theo sau khi đã được lập biên bản và tổ chức kiểm điểm, anh A tiếp tục vi phạm pháp luật. Hành vi vi phạm này không thuộc trường hợp bị xử lý theo quy định của pháp luật về hình sự. Do đó, anh A thuộc trường hợp “tiếp tục vi phạm pháp luật” nên anh A bị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc theo khoản 3 Điều 47 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025.

Tình huống 15:  Xử lý người cai nghiện ma túy tự nguyện vi phạm pháp luật nhiều lần

Anh A, 28 tuổi, cư trú tại xã X, tỉnh Y, được xác định là người nghiện ma túy và đang thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Trong thời gian cai nghiện, anh A có nghĩa vụ chấp hành các quy định của pháp luật. Trong thời gian này anh A liên tiếp thực hiện 03 hành vi vi phạm pháp luật. Lần vi phạm thứ nhất ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan, Công an xã X đang quản lý anh A lập biên bản và tổ chức nhắc nhở. Lần thứ hai, anh A tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Công an xã X lập biên bản và tổ chức kiểm điểm anh A. Sau đó, lần thứ ba, anh A tiếp tục vi phạm pháp luật. Cả 3 lần thực hiện hành vi vi phạm pháp luật đều không thuộc trường hợp bị xử lý theo quy định của pháp luật về hình sự. Trong trường hợp trên, anh A bị xử lý như thế nào? 

Trả lời:

Theo khoản 4 Điều 47 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 việc xử lý trường hợp vi phạm nghĩa vụ của người cai nghiện ma túy, người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy hoặc người điều trị nghiện bằng thuốc thay thế quy định: 

“4. Trong thời gian người nghiện ma túy cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế mà vi phạm pháp luật không thuộc trường hợp bị xử lý theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, ngoài việc xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan thì thực hiện như sau:

a) Vi phạm lần đầu thì Công an cấp xã đang quản lý lập biên bản và tổ chức nhắc nhở;

b) Vi phạm lần thứ hai thì Công an cấp xã đang quản lý lập biên bản, tổ chức kiểm điểm;

c) Vi phạm lần thứ ba thì bị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc.”.

Đối với tình huống trên, lần thứ nhất, anh A vi phạm pháp luật nên ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan, Công an xã X đang quản lý anh A phải lập biên bản và tổ chức nhắc nhở. Lần thứ hai, anh A tiếp tục vi phạm pháp luật, Công an xã X phải lập biên bản và tổ chức kiểm điểm anh A. Lần thứ ba, anh A tiếp tục vi phạm pháp luật. Do đây là lần vi phạm thứ ba và hành vi vi phạm không thuộc trường hợp bị xử lý theo quy định của pháp luật về hình sự, anh A bị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc theo điểm c khoản 4 Điều 47 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025.

Tình huống 16: Áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

Anh A, 30 tuổi, cư trú tại xã X, tỉnh Y, được xác định là người nghiện ma túy và đang thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Trong quá trình cai nghiện, cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với anh A. Anh A cho rằng biện pháp giám sát điện tử chỉ được áp dụng trong một khoảng thời gian cố định 02 năm và sau khi hết 02 năm thì đương nhiên chấm dứt, không phụ thuộc vào thời gian cai nghiện thực tế. Anh A có thuộc đối tượng áp dụng biện pháp giám sát điện tử không? Thời hạn áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với anh A được xác định như thế nào?

Trả lời: 

Theo khoản 1 Điều 15 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định về đối tượng và thời hạn áp dụng biện pháp giám sát điện tử:

“1. Đối với người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; người đang điều trị nghiện bằng thuốc thay thế hoặc người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên:

a) Người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, quản lý sau cai nghiện ma túy;

b) Người đang điều trị nghiện bằng thuốc thay thế bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử trong thời hạn 02 năm kể từ ngày quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử có hiệu lực thi hành.”.

Đối với tình huống trên, anh A 30 tuổi, đang thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, do đó anh A thuộc đối tượng áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Về thời hạn, pháp luật không quy định đối với trường hợp của anh A thời hạn cố định là 02 năm. Biện pháp giám sát điện tử được áp dụng trong thời gian anh A thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng.

Do đó, quan điểm của anh A cho rằng mọi trường hợp áp dụng giám sát điện tử đều có thời hạn 02 năm là không đúng. Thời hạn 02 năm kể từ ngày quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử có hiệu lực thi hành được áp dụng đối với người đang điều trị nghiện bằng thuốc thay thế theo điểm b khoản 1 Điều 15 Nghị định 163/2026/NĐ-CP.

Tình huống 17: Áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

 Em A, 16 tuổi, cư trú ổn định tại xã X, tỉnh Y, được xác định là người nghiện ma túy và đang thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Do lo ngại em A tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian cai nghiện, cha mẹ em A có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với em A. Tại thời điểm ban hành quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử, thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện còn 18 tháng. Em A có thuộc đối tượng áp dụng biện pháp giám sát điện tử không? Thời hạn áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với em A được xác định như thế nào?

Trả lời:

Theo điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định 163/2026/NĐ-CP đối tượng và thời hạn áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi quy định: 

2. Đối với người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; người đang điều trị nghiện bằng thuốc thay thế hoặc người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi:

a) Người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; người đang điều trị nghiện bằng thuốc thay thế hoặc người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định nhưng được cha mẹ, người giám hộ, người đại diện hợp pháp đề nghị áp dụng biện pháp giám sát điện tử thì bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử trong thời hạn 01 năm kể từ ngày quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử có hiệu lực thi hành hoặc đến khi hết thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; điều trị nghiện bằng thuốc thay thế; quản lý sau cai nghiện đối với trường hợp thời gian cai nghiện, điều trị nghiện bằng thuốc thay thế, quản lý sau cai nghiện còn ít hơn 01 năm kể từ ngày ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử.”.

Đối với tình huống trên em A 16 tuổi, thuộc độ tuổi từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi và có nơi cư trú ổn định. Em A đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và cha mẹ em A đã có đề nghị áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Như vậy, em A thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử theo quy định nêu trên.

Tại thời điểm quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử có hiệu lực, thời gian cai nghiện của em A còn 18 tháng, tức là dài hơn 01 năm. Do đó, thời hạn áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với em A là 01 năm kể từ ngày quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử có hiệu lực thi hành.

Tình huống 18: Trưởng Công an cấp xã ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

Anh A, 30 tuổi, cư trú tại xã X, tỉnh Y, được xác định là người nghiện ma túy và đang thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Công an xã X đã lập danh sách quản lý anh A theo quy định. Qua xem xét, anh A thuộc đối tượng áp dụng biện pháp giám sát điện tử theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP. Sau khi xác định anh A thuộc đối tượng và thời hạn áp dụng biện pháp giám sát điện tử, Trưởng Công an xã X xem xét việc ban hành quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với anh A. Ai có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với anh A? Việc ra quyết định được thực hiện căn cứ vào đâu?

Trả lời:

Theo khoản 1 Điều 16 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, quy định:

“Điều 16. Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử

1. Trưởng Công an cấp xã nơi lập danh sách quản lý người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy và người đang điều trị nghiện bằng thuốc thay thế căn cứ vào đối tượng và thời hạn giám sát điện tử quy định tại Điều 15 của Nghị định này để ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử.”.

Đối với tình huống trong trường hợp trên, anh A đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và được Công an xã X lập danh sách quản lý. Theo quy định, Trưởng Công an xã X là người có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với anh A. Khi ra quyết định, Trưởng Công an xã X phải căn cứ vào đối tượng áp dụng biện pháp giám sát điện tử theo Điều 15 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP; thời hạn áp dụng biện pháp giám sát điện tử tương ứng với đối tượng đó theo Điều 15. Đối với người từ đủ 18 tuổi đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, thời hạn giám sát điện tử được xác định trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. 

Như vậy, Trưởng Công an xã X không tự xác định một thời hạn tùy ý mà phải đối chiếu đúng đối tượng và thời hạn đã được quy định tại Điều 15 trước khi ban hành quyết định.

Tình huống 19: Trưởng Công an xã phải ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với anh A trong thời hạn bao lâu?

Ngày 07/9/2026, anh Nguyễn Văn A, 25 tuổi, cư trú tại xã X, thuộc trường hợp thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng.

Vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 07/9/2026, Công an xã X ban hành quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng đối với anh A. Sau khi nhận được quyết định, cán bộ phụ trách lập hồ sơ để Trưởng Công an xã xem xét áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Tuy nhiên, do phải xử lý nhiều công việc khác, đến 19 giờ 30 phút cùng ngày, Trưởng Công an xã X mới ký quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với anh A.

Trả lời

Theo điểm a khoản 2 Điều 16 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định:

“2. Thời hạn ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử:

a) Trưởng Công an cấp xã ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với người quy định tại điểm a, điểm b khoản 1; điểm b khoản 2 Điều 15 của Nghị định này trong thời hạn 12 giờ kể từ khi Công an cấp xã ra quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; nhận được thông báo tiếp nhận điều trị của cơ sở điều trị nghiện bằng thuốc thay thế hoặc nhận được quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.”.

Đối với người thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 15, trong đó có người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, Trưởng Công an cấp xã phải ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử trong thời hạn 12 giờ kể từ khi Công an cấp xã ra quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. 

Trong tình huống trên, thời điểm chậm nhất phải ra quyết định là 20 giờ 00 phút ngày 07/9/2026. Việc ra quyết định lúc 19 giờ 30 phút là đúng quy định về thời hạn tại điểm a khoản 2 Điều 16 Nghị định 163/2026/NĐ-CP

Như vậy, Trưởng Công an xã X đã ra quyết định đúng thời hạn, vì quyết định được ban hành trước thời điểm hết hạn 30 phút.

Tình huống 20: Thời hạn ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

Ngày 10/9/2026, anh Nguyễn Văn A, 17 tuổi, đang thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và có nơi cư trú ổn định tại xã X. Cha mẹ anh A nhận thấy cần thiết phải áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với A nên đã lập văn bản đề nghị áp dụng biện pháp giám sát điện tử gửi Công an xã X. Vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 10/9/2026, Công an xã X nhận được văn bản đề nghị của cha mẹ anh A.

Sau khi tiếp nhận văn bản, cán bộ Công an xã X đã kiểm tra, hoàn thiện hồ sơ và báo cáo Trưởng Công an xã xem xét, quyết định. Đến 07 giờ 30 phút ngày 11/9/2026, Trưởng Công an xã X ký quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với anh A. Trưởng Công an xã phải ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử trong thời hạn bao lâu?

Trả lời

Theo điểm b khoản 2 Điều 16 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định:

“2. Thời hạn ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử:

b) Trưởng Công an cấp xã ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được văn bản đề nghị của cha mẹ, người giám hộ, người đại diện hợp pháp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 của Nghị định này hoặc tài liệu về hành vi vi phạm đối với người quy định tại khoản 6 Điều 25 của Nghị định này.”.

Như vậy, đối với trường hợp cha mẹ của anh A có văn bản đề nghị áp dụng biện pháp giám sát điện tử, thời hạn để Trưởng Công an xã X ra quyết định là 24 giờ kể từ khi Công an xã X nhận được văn bản đề nghị.

Trưởng Công an xã X phải ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với anh A trong thời hạn 24 giờ kể từ khi Công an xã X nhận được văn bản đề nghị của cha mẹ anh A. Trong tình huống trên, thời điểm chậm nhất để Trưởng Công an xã X ra quyết định là 08 giờ 00 phút ngày 11/9/2026. Việc ra quyết định lúc 07 giờ 30 phút ngày 11/9/2026 là đúng thời hạn theo điểm b khoản 2 Điều 16 Nghị định 163/2026/NĐ-CP.

Tình huống 21: Hiệu lực thi hành Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

Ngày 07/9/2026, Trưởng Công an xã X ban hành Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với anh Nguyễn Văn A. Quyết định xác định có hiệu lực thi hành kể từ 08 giờ 00 phút ngày 08/9/2026. Cán bộ Công an xã X được Trưởng Công an xã phân công trực tiếp thực hiện việc giám sát điện tử đối với anh A. Sau khi quyết định có hiệu lực, cán bộ được phân công đã liên hệ với anh A và yêu cầu anh có mặt tại trụ sở Công an xã để thực hiện việc thi hành quyết định và đeo thiết bị giám sát. Trong thời hạn bao lâu kể từ khi Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử có hiệu lực thi hành, cán bộ Công an cấp xã được giao nhiệm vụ phải tổ chức thi hành quyết định và đeo thiết bị giám sát lên cơ thể người bị giám sát?

Trả lời

Theo Khoản 1 Điều 17 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định:

“Điều 17. Quy trình thi hành quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử

1. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử có hiệu lực thi hành, cán bộ Công an cấp xã được giao nhiệm vụ thực hiện giám sát điện tử có trách nhiệm thi hành quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử và tiến hành đeo thiết bị giám sát lên cơ thể người bị giám sát. Việc thi hành Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử được lập thành biên bản theo Mẫu số 03 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.”.

Theo quy định trên, có hai yêu cầu cần xác định:

Về thời hạn: Cán bộ Công an cấp xã được giao nhiệm vụ phải thi hành quyết định và đeo thiết bị giám sát trong thời hạn 24 giờ kể từ khi Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử có hiệu lực thi hành.

Về hồ sơ: Việc thi hành quyết định phải được lập thành biên bản theo Mẫu số 03 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định.

Trong tình huống trên, Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử có hiệu lực từ 08 giờ 00 phút ngày 08/9/2026. Thời hạn 24 giờ được tính từ thời điểm này: 08 giờ 00 phút.

Tình huống 22: Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng

Ngày 10/9/2026, Trưởng Công an xã X ban hành Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với anh Nguyễn Văn A, 16 tuổi, cư trú tại xã X. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ 08 giờ 00 phút ngày 11/9/2026.

Theo phân công, cán bộ Công an xã X được giao nhiệm vụ tổ chức thi hành Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với A. Vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 11/9/2026, cán bộ Công an xã X tổ chức thi hành quyết định và thực hiện việc đeo thiết bị giám sát điện tử cho A. Tại thời điểm thi hành quyết định, cán bộ Công an xã X đã: Thông báo cho A về Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử; Giải thích cho A về các quy định liên quan đến biện pháp giám sát điện tử; Thông báo cho mẹ của A về việc A bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử; Yêu cầu A ký cam kết thực hiện biện pháp giám sát điện tử. Khi tổ chức thi hành Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử, cán bộ Công an có trách nhiệm gì đối với người bị giám sát và người đại diện của người bị giám sát từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi?

Trả lời

Theo khoản 2 Điều 17 Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định:

“Điều 17. Quy trình thi hành quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử

2. Cán bộ Công an có trách nhiệm tổ chức thi hành Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử phải thông báo cho người bị giám sát; cha mẹ, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp của người bị giám sát từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi về Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử; các quy định liên quan đến biện pháp giám sát điện tử và yêu cầu người bị giám sát ký cam kết thực hiện biện pháp giám sát điện tử theo Mẫu số 04 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.”.

Theo quy định trên, cán bộ Công an có trách nhiệm thực hiện ba nội dung chính:

Thông báo cho người bị giám sát về Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử và các quy định liên quan đến biện pháp này.

- Nếu người bị giám sát từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi thì phải thông báo cho cha mẹ, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp của người đó.

- Yêu cầu người bị giám sát ký cam kết thực hiện biện pháp giám sát điện tử theo Mẫu số 04 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định.

Trong tình huống, A 16 tuổi, thuộc nhóm người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi. Do đó, cán bộ Công an xã X phải thông báo cho A và mẹ của A về Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử và các quy định liên quan. Đồng thời, cán bộ Công an phải yêu cầu A ký cam kết thực hiện biện pháp giám sát điện tử theo Mẫu số 04.

Việc thực hiện đầy đủ các nội dung trên là trách nhiệm của cán bộ Công an được giao tổ chức thi hành Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Mẫu số 04 được quy định riêng trong Phụ lục I :Cam kết thực hiện biện pháp giám sát điện tử.

 

Tác giả: Nguyễn Thùy Dương-Phòng PB,GDPL&TDTHPL

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây