65 tình huống tuyên truyền pháp luật

Thứ năm - 06/08/2026 06:13 21 0
Tình huống 1:
Trong quá trình mở rộng lối vào trang trại, ông B thấy một mốc đo đạc nằm đúng vị trí dự kiến đổ bê tông. Ông tự đào mốc lên và chuyển sang góc khác của thửa đất, cho rằng mốc vẫn được giữ nguyên nên không cần xin ý kiến cơ quan quản lý mốc.
Hỏi: Việc tự ý di dời mốc đo đạc của ông B có vi phạm pháp luật không? Ông B phải chịu hình thức xử lý nào?
Trả lời:
Tại điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị định 18/2020/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi “Tự ý di dời, phá dỡ mốc đo đạc khi không có sự chấp thuận của cơ quan quản lý mốc đo đạc đó”.
Điểm a khoản 5 Điều 6 Nghị định 18/2020/NĐ-CP quy định biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với các hành vi quy định tại điểm b khoản 2 và khoản 3 Điều này;

Do vậy, ông B có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng và buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của mốc đo đạc. Việc mốc chưa bị phá hủy không làm mất đi tính vi phạm của hành vi tự ý di dời.
Tình huống 2.
Công ty Cổ phần Vận tải Bắc Nam là tổ chức, chủ sở hữu một xe ô tô đầu kéo. Xe đã được lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng thiết bị không ghi, không lưu trữ được dữ liệu theo quy định. Mặc dù vậy, Công ty vẫn đưa xe tham gia giao thông. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe trên xe không ghi, không lưu trữ được dữ liệu.
Hỏi: Công ty Cổ phần Vận tải Bắc Nam bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm l khoản 19 Điều 32, được sửa đổi, bổ sung theo khoản 4 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"l) Thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm o khoản 7, khoản 9a Điều này buộc lắp đặt dụng cụ, thiết bị chuyên dùng để cứu hộ, hỗ trợ cứu hộ, thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe trên xe theo đúng quy định."
Điểm b khoản 9a Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP được bổ sung tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"9a. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô đầu kéo, xe vận tải nội bộ thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
"b) Đưa xe không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe hoặc có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng không ghi, không lưu trữ được dữ liệu theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe lắp trên xe ô tô."
Trong tình huống trên, Công ty Cổ phần Vận tải Bắc Nam đã đưa xe ô tô đầu kéo có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng thiết bị không ghi, không lưu trữ được dữ liệu theo quy định tham gia giao thông. Do đó, hành vi của Công ty có thể thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 9a Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Như vậy, Công ty Cổ phần Vận tải Bắc Nam có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng theo điểm b khoản 9a Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP và buộc bảo đảm thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe hoạt động đúng quy định theo điểm l khoản 19 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 11 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Tình huống 3:
Ông Y kinh doanh ấn phẩm bản đồ thể hiện sai địa giới hành chính. Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường tiến hành kiểm tra, lập biên bản và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Y số tiền 25.000.000 đồng.
Hỏi: Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường có thẩm quyền xử phạt cá nhân số tiền 25.000.000 đồng không?
Trả lời:
Căn cứ khoản 2 Điều 20 Nghị định 18/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Điều 13 Nghị định 228/2026/NĐ-CP) quy định: "Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường, Trưởng phòng Nghiệp vụ Quản lý thị trường thuộc Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước có quyền: a) Phạt tiền đến 25.000.000 đồng;"
Trong tình huống này, ông Y là cá nhân vi phạm. Thẩm quyền phạt tiền tối đa của Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường đối với cá nhân là 25.000.000 đồng. Do đó, mức phạt này nằm trong giới hạn thẩm quyền luật định.
Tình huống 4:
Chi cục trưởng Chi cục Hải quan khu vực ra quyết định phạt Công ty X (tổ chức) số tiền 45.000.000 đồng vì vi phạm liên quan đến xuất nhập khẩu dữ liệu bản đồ sai biên giới quốc gia.
Hỏi: Chi cục trưởng Chi cục Hải quan có đủ thẩm quyền xử phạt một tổ chức 45.000.000 đồng không?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 12 Nghị định 228/2026/NĐ-CP (sửa đổi Điều 19 Nghị định số 18/2020/NĐ-CP) quy định:
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Hải quan
Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Hải quan có thẩm quyền xử phạt và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 3 Điều 10, khoản 2 Điều 11 Nghị định này, trên địa bàn quản lý và theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, cụ thể như sau:
1. Chi cục trưởng Chi cục Điều tra chống buôn lậu, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm tra sau thông quan, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan khu vực có quyền:
a) Phạt tiền đến 25.000.000 đồng;
b) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
c) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định này.”
Do đó, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan có đủ thẩm quyền xử phạt một tổ chức 45.000.000 đồng.
Tình huống 5:
Cục trưởng Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam phát hiện Công ty Đo đạc Y (tổ chức) có hành vi hoạt động sai nội dung giấy phép và dự định xử phạt Công ty Y mức tối đa theo khung quy định là 60.000.000 đồng.
Hỏi: Cục trưởng có thẩm quyền ra quyết định phạt số tiền 60.000.000 đồng đối với tổ chức không?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 14a (được bổ sung tại Điều 8 Nghị định 228/2026/NĐ-CP) quy định: “Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Thủ trưởng tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ; Trưởng đoàn kiểm tra do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thành lập được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ của bộ, cơ quan ngang bộ; Giám đốc sở thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ của các sở; Trưởng đoàn kiểm tra do Thủ trưởng tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ thành lập thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ
1. Cục trưởng Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam; Thủ trưởng tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ được giao nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ quy định tại Chương II Nghị định này, cụ thể như sau:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng;
c) Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ, chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ từ 03 tháng đến 09 tháng;
d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 3 của Nghị định này.”
Vì vậy, đối với tổ chức, Cục trưởng có quyền phạt tiền tối đa lên đến 100.000.000 đồng.
Tình huống 6:
Trong một buổi tập huấn nghiệp vụ đầu năm 2027, báo cáo viên nhắc đến cơ quan có trách nhiệm đề nghị ban hành và tổ chức hướng dẫn thi hành Nghị định 228/2026/NĐ-CP là Bộ Tài nguyên và Môi trường như quy định của Nghị định 18/2020/NĐ-CP.
Hỏi: Nội dung báo cáo viên cung cấp có chính xác theo Nghị định 228/2026/NĐ-CP không?
Trả lời:
Nghị định 228/2026/NĐ-CP được ban hành căn cứ theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Hơn nữa, khoản 1 Điều 17 Nghị định 228/2026/NĐ-CP đã quy định rõ: “Thay thế cụm từ “Bộ Tài nguyên và Môi trường” bằng cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Môi trường” tại khoản 2 Điều 26 của Nghị định 18/2020/NĐ-CP.”
Do đó, trách nhiệm tổ chức và hướng dẫn thi hành hiện nay thuộc về Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Tình huống 7:
Trong một đợt kiểm tra chuyên ngành, Trưởng đoàn kiểm tra đã phát hiện Công ty Cổ phần Đo đạc A (tổ chức) hoạt động không đúng nội dung giấy phép. Trưởng đoàn kiểm tra đã lập biên bản và ra quyết định xử phạt Công ty A số tiền 90.000.000 đồng.
Hỏi: Trưởng đoàn kiểm tra có thẩm quyền xử phạt một tổ chức số tiền 90.000.000 đồng không?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 14a (được bổ sung tại Điều 8 Nghị định 228/2026/NĐ-CP) quy định: “2. Trưởng đoàn kiểm tra do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thành lập được giao nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ của bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ theo quy định tại khoản 1 Điều này.”
Theo đó, chức danh này có quyền phạt tiền đến 50.000.000 đồng đối với cá nhân. Áp dụng nguyên tắc xử phạt đối với tổ chức, Trưởng đoàn kiểm tra có thẩm quyền phạt tổ chức số tiền tối đa bằng 02 lần mức phạt cá nhân (lên đến 100.000.000 đồng). Việc phạt Công ty A 90.000.000 đồng là hoàn toàn đúng thẩm quyền.
Tình huống 8:
Phòng Cảnh sát giao thông cấp tỉnh phát hiện một xe tải của Doanh nghiệp vận tải X (tổ chức) đang vận chuyển, tẩu tán một số lượng lớn bản đồ thể hiện sai đường biên giới quốc gia. Trưởng phòng Cảnh sát giao thông đã ra quyết định xử phạt Doanh nghiệp X số tiền 75.000.000 đồng.
Hỏi: Trưởng phòng Cảnh sát giao thông có được phạt tổ chức số tiền 75.000.000 đồng không?
Trả lời:
Khoản 5 Điều 16 (được sửa đổi tại Điều 9 Nghị định 228/2026/NĐ-CP) quy định: “5. Trưởng Công an cửa khẩu Cảng hàng không quốc tế; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục An ninh chính trị nội bộ; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát giao thông; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao và Trưởng phòng Công an cấp tỉnh gồm: Trưởng phòng An ninh chính trị nội bộ, Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Trưởng phòng An ninh kinh tế, Trưởng phòng An ninh đối ngoại, Thủy đoàn trưởng có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 40.000.000 đồng;
c) Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ, chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ từ 03 tháng đến 09 tháng;
d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định này.”
Nhân đôi mức phạt đối với tổ chức, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông có quyền phạt tổ chức tối đa lên đến 80.000.000 đồng. Việc xử phạt 75.000.000 đồng đối với Doanh nghiệp X là đúng thẩm quyền.
Tình huống 9:
Ông A được cấp chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ với nội dung chuyên môn là đo đạc địa hình. Tuy nhiên, ông A lại nhận hợp đồng và tiến hành thực hiện công việc đo đạc, lập bản đồ địa chính cho một dự án khu dân cư.
Hỏi: Hành vi của ông A có vi phạm pháp luật không và bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Hành vi của ông A là vi phạm pháp luật.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị định 18/2020/NĐ-CP, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi: "Hành nghề đo đạc và bản đồ không đúng với nội dung ghi trong chứng chỉ hành nghề". Mức phạt này áp dụng đối với cá nhân.
Đồng thời, căn cứ điểm b khoản 5 Điều 5 Nghị định 18/2020/NĐ-CP được sửa đổi tại khoản 3 Điều 3 Nghị định 228/2026/NĐ-CP, ông A sẽ bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ từ 03 tháng đến 09 tháng.
Tình huống 10:
Công ty TNHH Đo đạc A đã được cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ. Sau một thời gian hoạt động, một số nhân sự kỹ thuật chủ chốt nghỉ việc, khiến công ty không còn duy trì đủ các điều kiện theo quy định để được cấp giấy phép. Dù chưa bổ sung nhân sự đáp ứng yêu cầu, công ty vẫn tiếp tục ký hợp đồng và thực hiện các công việc đo đạc cho khách hàng.
Hỏi: Công ty A có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Mức phạt được xác định như thế nào?
Trả lời: Hành vi của Công ty A là vi phạm quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đo đạc và bản đồ.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 5 Nghị định 18/2020/NĐ-CP, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi “Hoạt động đo đạc và bản đồ khi không duy trì các điều kiện theo quy định để được cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ”.
Căn cứ khoản 2 Điều 4 Nghị định 18/2020/NĐ-CP, mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Vì Công ty A là tổ chức, mức phạt áp dụng là từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Tình huống 11:
Công ty TNHH B nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ. Trong quá trình thẩm định, cơ quan nhà nước phát hiện Công ty B đã cố tình làm sai lệch, giả mạo một số văn bằng, chứng chỉ của nhân viên kỹ thuật để đủ điều kiện cấp phép.
Hỏi: Công ty TNHH B sẽ bị xử lý vi phạm hành chính như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định 18/2020/NĐ-CP, quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi: "Làm sai lệch nội dung trong Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ". Do Công ty B là tổ chức, mức phạt tiền sẽ bằng 02 lần mức phạt của cá nhân, tức là bị phạt từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 5 (được sửa đổi tại khoản 3 Điều 3 Nghị định 228/2026/NĐ-CP), Công ty B còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (các giấy tờ, hồ sơ đã làm sai lệch).
Tình huống 12:
Công ty C (là một tổ chức) được giao nhiệm vụ đo đạc lưới tọa độ. Đội khảo sát của công ty đã sử dụng một số mốc đo đạc quốc gia trên địa bàn xã X. Tuy nhiên, công ty hoàn thành công việc mà không thực hiện việc báo cáo với Ủy ban nhân dân xã X.
Hỏi: Hành vi của Công ty C có vi phạm không và mức phạt được quy định ra sao?
Trả lời:
Căn cứ khoản 1 Điều 6 Nghị định 18/2020/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với hành vi "không báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã khi sử dụng mốc đo đạc".
Vì Công ty C là tổ chức, theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 18/2020/NĐ-CP, mức phạt tiền phải nhân 02 lần so với cá nhân. Do đó, Công ty C sẽ bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng.
Tình huống 13:
Trung tâm Thiết kế D (là tổ chức) thực hiện một dự án lập bản đồ quy hoạch. Khi xuất bản bản đồ nộp cho chủ đầu tư, Trung tâm D đã sử dụng các tên gọi địa danh cũ theo thói quen địa phương mà không dùng các địa danh đã được cơ quan nhà nước chuẩn hóa và công bố.
Hỏi: Hành vi của Trung tâm D bị xử lý thế nào?
Trả lời:
Căn cứ khoản 1 Điều 7 Nghị định 18/2020/NĐ-CP, phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi: "Không sử dụng, thể hiện không chính xác địa danh đã được chuẩn hóa và công bố trong hoạt động đo đạc và bản đồ". Đối với tổ chức (như Trung tâm D), mức phạt tiền sẽ từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.
Đồng thời, căn cứ điểm b khoản 5 Điều 7 Nghị định 18/2020/NĐ-CP, biện pháp khắc phục hậu quả áp dụng cho Trung tâm D là buộc cải chính thông tin, sửa chữa dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ.
Tình huống 14:
Ban Quản lý dự án E (đại diện chủ đầu tư) tổ chức nghiệm thu và kiểm tra chất lượng sản phẩm đo đạc do Công ty thi công F thực hiện. Tuy nhiên, Ban Quản lý dự án E vẫn tiến hành kiểm tra và ký nghiệm thu ngay cả khi Công ty F chưa thực hiện đầy đủ việc tự kiểm tra chất lượng sản phẩm cấp đơn vị thi công.
Hỏi: Ban Quản lý dự án E có vi phạm pháp luật không và mức phạt ra sao?
Trả lời: Hành vi của Ban Quản lý dự án E là vi phạm quy định pháp luật.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị định 18/2020/NĐ-CP, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi: "Thực hiện kiểm tra chất lượng sản phẩm đo đạc và bản đồ cấp chủ đầu tư khi nhà thầu, tổ chức, cá nhân chưa thực hiện đầy đủ việc kiểm tra chất lượng sản phẩm cấp đơn vị thi công theo quy định".
Vì Ban Quản lý dự án E là tổ chức, mức phạt áp dụng sẽ được nhân 2 lần, tức là từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Tình huống 15:
Công ty Cổ phần Đo đạc G có giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ. Tháng 3/2026, công ty thay đổi người phụ trách kỹ thuật (kỹ sư trưởng). Tuy nhiên, đến khi cơ quan thanh tra kiểm tra vào tháng 8/2026, công ty vẫn chưa báo cáo cơ quan cấp phép về sự thay đổi này.
Hỏi: Công ty G sẽ bị xử lý vi phạm hành chính ra sao?
Trả lời: Căn cứ khoản 1 Điều 9 Nghị định 18/2020/NĐ-CP, phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi "Không báo cáo cơ quan cấp phép hoạt động đo đạc và bản đồ khi có sự thay đổi người phụ trách kỹ thuật hoặc khi có sự thay đổi địa chỉ trụ sở chính".
Do Công ty G là tổ chức, mức xử phạt tiền sẽ bằng 02 lần mức phạt của cá nhân, số tiền phạt sẽ từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng.
Tình huống 16:
Công ty H (tổ chức) vừa hoàn thành một dự án lập bản đồ bằng nguồn ngân sách nhà nước. Đã quá thời hạn quy định, cơ quan quản lý yêu cầu Công ty H giao nộp dữ liệu để đưa vào lưu trữ quốc gia nhưng công ty vẫn chây ỳ, không chịu giao nộp. Hỏi: Mức phạt và biện pháp khắc phục áp dụng cho hành vi của Công ty H là gì?
Trả lời: Căn cứ khoản 2 Điều 10 Nghị định 18/2020/NĐ-CP, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi "Không giao nộp thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ để lưu trữ theo quy định". Với tổ chức là Công ty H, mức phạt sẽ từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
Bên cạnh việc nộp phạt, căn cứ điểm b khoản 5 Điều 10 Nghị định 18/2020/NĐ-CP, Công ty H còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc thực hiện việc giao nộp thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ theo quy định.
Tình huống 17:
Nhà xuất bản K phát hành một bộ ấn phẩm bản đồ du lịch. Tuy nhiên, sau khi lưu hành, cơ quan chức năng phát hiện đường ranh giới hành chính giữa hai tỉnh liền kề trong bản đồ được vẽ không đúng so với quy định pháp luật.
Hỏi: Vi phạm của Nhà xuất bản K bị xử lý thế nào?
Trả lời: Căn cứ khoản 1 Điều 11 Nghị định 18/2020/NĐ-CP, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi "Xuất bản, lưu hành sản phẩm đo đạc và bản đồ, xuất bản phẩm bản đồ thể hiện không đúng địa giới hành chính theo quy định". Vì K là tổ chức, mức phạt thực tế áp dụng là từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 11 Nghị định 18/2020/NĐ-CP, Nhà xuất bản K bắt buộc phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là buộc cải chính thông tin, sửa chữa dữ liệu, xuất bản phẩm bản đồ.
Tình huống 18:
Ông L có phần vườn cây ăn trái nằm gần một mốc tọa độ quốc gia. Khi đội khảo sát của một trung tâm đo đạc (đã có đủ giấy phép hợp pháp) đến xin phép sử dụng mốc này để thực hiện nhiệm vụ, ông L đã đóng cổng, dùng lời lẽ đe dọa, xua đuổi không cho đội khảo sát tiếp cận.
Hỏi: Hành vi của ông L có vi phạm pháp luật không và mức xử phạt ra sao?
Trả lời: Hành vi của ông L là vi phạm pháp luật.
Căn cứ khoản 1 Điều 12 Nghị định 18/2020/NĐ-CP, phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi "Cản trở tổ chức, cá nhân sử dụng mốc đo đạc khi thực hiện hoạt động đo đạc hợp pháp".
Vì ông L là cá nhân, mức phạt áp dụng sẽ giữ nguyên từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.
Tình huống 19:
Ông M (cá nhân hành nghề đo đạc) được bà N thuê đo vẽ ranh giới đất. Trong quá trình tiến hành, vì được bà N hứa hẹn cho thêm tiền bồi dưỡng, ông M đã cố ý lợi dụng chuyên môn của mình để đo sai lệch, lấn ranh sang phần đất của hàng xóm, gây thiệt hại cho chủ đất liền kề.
Hỏi: Hành vi của ông M có bị xử phạt hành chính không?
Trả lời: Hành vi của ông M vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
Căn cứ khoản 1 Điều 13 Nghị định 18/2020/NĐ-CP, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi "Lợi dụng hoạt động đo đạc và bản đồ để xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân".
Do ông M là cá nhân thực hiện hành vi vi phạm, mức phạt áp dụng đối với ông M sẽ là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Tình huống 20:
Ông A là một kỹ sư đo đạc có chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ. Tuy nhiên, để đủ điều kiện tham gia đấu thầu một dự án lớn yêu cầu chứng chỉ có phạm vi hoạt động rộng hơn, ông A đã tự ý cạo sửa, tẩy xóa và làm sai lệch nội dung ghi trên chứng chỉ hành nghề của mình để nộp hồ sơ.
Hỏi: Hành vi của ông A có bị xử phạt không? Mức xử phạt là bao nhiêu?
Trả lời: Hành vi của ông A là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định 18/2020/NĐ-CP, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi: "Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ".
Đồng thời, căn cứ điểm a khoản 5 Điều 5 Nghị định 18/2020/NĐ-CP, ông A sẽ bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật vi phạm hành chính (chính là chứng chỉ hành nghề đã bị tẩy xóa, sửa chữa).
Tình huống 21:
Công ty K có hành vi vi phạm về kiểm định thiết bị đo đạc. Hành vi này đã diễn ra và kết thúc hoàn toàn vào tháng 7 năm 2026. Tuy nhiên, đến tháng 9 năm 2026, cơ quan thanh tra mới phát hiện ra sai phạm này. Tại thời điểm phát hiện, Nghị định 228/2026/NĐ-CP đã có hiệu lực (từ ngày 15/8/2026).
Hỏi: Cơ quan chức năng sẽ áp dụng Nghị định nào để xử phạt Công ty K?
Trả lời:
Căn cứ khoản 1 Điều 19 (Điều khoản chuyển tiếp) của Nghị định 228/2026/NĐ-CP: "Đối với hành vi vi phạm xảy ra và kết thúc trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực mà sau đó mới bị phát hiện thì áp dụng Nghị định số 18/2020/NĐ-CP (đã được sửa đổi bởi NĐ 04/2022/NĐ-CP) để xử lý."
Cơ quan chức năng sẽ áp dụng Nghị định 18/2020/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Nghị định 04/2022/NĐ-CP) để xử phạt.
Tình huống 22:
Sở Nông nghiệp và Môi trường ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty M. Toàn bộ quy trình từ lập biên bản đến ra quyết định đều thực hiện trên môi trường điện tử. Công ty M từ chối nộp phạt vì cho rằng biên bản không có bản giấy ký tay.
Hỏi: Lý do từ chối của Công ty M có đúng quy định pháp luật không? Việc xử phạt trên môi trường điện tử được quy định ở đâu?
Trả lời: Lý do từ chối của Công ty M là sai và không đúng luật.
Căn cứ Điều 23a Nghị định 18/2020/NĐ-CP (được bổ sung tại Điều 16 Nghị định 228/2026/NĐ-CP) quy định: "Việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ trên môi trường điện tử được thực hiện theo quy định tại Điều 18a Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 28a và Điều 28b Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ...".
Trong tình huống này, việc xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử đã được pháp luật quy định và công nhận giá trị pháp lý. Do đó, Công ty M bắt buộc phải tuân thủ và chấp hành quyết định xử phạt.
Tình huống 23: Ông K cố tình bán tháo toàn bộ dàn máy móc đo đạc (là tang vật vi phạm hành chính) cho người khác với giá 50.000.000 đồng ngay khi biết lực lượng chức năng chuẩn bị đến lập biên bản tịch thu.
Hỏi: Cơ quan chức năng sẽ áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả nào đối với số tiền 50.000.000 đồng này?
Trả lời: Cơ quan chức năng sẽ áp dụng biện pháp buộc ông K nộp lại toàn bộ số tiền trên. Căn cứ khoản 3 Điều 3 Nghị định 18/2020/NĐ-CP (điểm l được bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 228/2026/NĐ-CP) quy định về biện pháp khắc phục hậu quả: "Buộc nộp lại số tiền bằng với giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật."
Trong tình huống này, dàn máy móc là tang vật vi phạm đã bị ông K tự ý tẩu tán để thu về 50.000.000 đồng. Do đó, pháp luật bắt buộc ông K phải nộp lại số tiền 50.000.000 đồng bằng với giá trị tang vật đã tiêu thụ.
Tình huống 24:
Công ty Cổ phần Công nghệ Sao Việt là doanh nghiệp phát triển và cung cấp ứng dụng di động phục vụ giao dịch hành chính và thanh toán trực tuyến cho người dân. Ứng dụng được triển khai rộng rãi tại nhiều địa phương và là một trong những kênh cung cấp dịch vụ trực tuyến của doanh nghiệp. Qua phản ánh của Hội Người mù tỉnh X và Hội Người khuyết tật tỉnh Y, nhiều người khiếm thị không thể sử dụng ứng dụng vì phần mềm không tương thích với các chương trình đọc màn hình; các nút chức năng không có mô tả văn bản; nhiều biểu mẫu chỉ thể hiện dưới dạng hình ảnh, không có nội dung thay thế. Đồng thời, người khiếm thính cũng phản ánh các video hướng dẫn sử dụng ứng dụng không có phụ đề hoặc ngôn ngữ ký hiệu. Thanh tra cơ quan quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông tiến hành kiểm tra và xác định: Doanh nghiệp chưa áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật và công nghệ hỗ trợ người khuyết tật theo quy định đối với sản phẩm phần mềm và nội dung thông tin số. Hành vi làm hạn chế khả năng tiếp cận và sử dụng sản phẩm, dịch vụ thông tin và truyền thông của người khuyết tật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi trên có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại khoản 1 Điều 18 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về thông tin và truyền thông dành cho người khuyết tật quy định “Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với doanh nghiệp sản xuất, phân phối sản phẩm, dịch vụ thông tin và truyền thông, bao gồm phần cứng, phần mềm và nội dung thông tin số vi phạm một trong các quy định bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn, công nghệ hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận, sử dụng sản phẩm, dịch vụ thông tin và truyền thông.
Công ty Cổ phần Công nghệ Sao Việt đã thực hiện hành vi: Vi phạm quy định bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn, công nghệ hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận, sử dụng sản phẩm, dịch vụ thông tin và truyền thông. Hành vi vi phạm được thể hiện ở các nội dung: Không áp dụng tiêu chuẩn tiếp cận đối với phần mềm phục vụ người khuyết tật, không tích hợp các công nghệ hỗ trợ như tương thích với phần mềm đọc màn hình, nội dung thay thế cho hình ảnh, phụ đề hoặc các hình thức hỗ trợ tiếp cận khác theo quy định. Làm hạn chế quyền tiếp cận thông tin và sử dụng dịch vụ số của người khuyết tật.
Do vậy, công ty có thể bị xử phạt như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Công ty Cổ phần Công nghệ Sao Việt (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 98/2026/NĐ-CP trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Nghị định 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm tại khoản 1 Điều 18 Nghị định này.
Tình huống 25:
Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh X được giao chủ trì thực hiện chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, chế tạo và sản xuất thiết bị, phần mềm hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận công nghệ thông tin và truyền thông. Theo chương trình, các doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật sẽ được vay vốn với lãi suất ưu đãi và hưởng một số chính sách hỗ trợ khác. Trong quá trình xét duyệt hồ sơ năm 2026, Hội đồng thẩm định đã đề xuất cho Công ty TNHH Minh Phát được hưởng chính sách ưu đãi mặc dù doanh nghiệp này chỉ sản xuất thiết bị điện tử dân dụng, không có hoạt động nghiên cứu, chế tạo, sản xuất hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận công nghệ thông tin và truyền thông. Ngược lại, Công ty Cổ phần Công nghệ Ánh Dương, là doanh nghiệp có dự án phát triển phần mềm đọc màn hình cho người khiếm thị và đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định, lại không được xem xét hỗ trợ. Qua thanh tra, cơ quan có thẩm quyền kết luận: Chính sách ưu đãi đã được áp dụng cho doanh nghiệp không thuộc đối tượng được hưởng theo quy định của pháp luật. Việc xét duyệt không đúng đối tượng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của doanh nghiệp đủ điều kiện và hiệu quả thực hiện chính sách hỗ trợ người khuyết tật. Hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng đủ căn cứ xử phạt vi phạm hành chính, cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính ra quyết định xử phạt theo quy định. Hành vi trên có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại khoản 2 Điều 18 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về thông tin và truyền thông dành cho người khuyết tật: “Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi áp dụng không đúng đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi về cho vay vốn với lãi suất ưu đãi và hỗ trợ khác cho hoạt động nghiên cứu, chế tạo, sản xuất và cung cấp dịch vụ, phương tiện hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận công nghệ thông tin và truyền thông.
Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong quá trình thực hiện chính sách đã có hành vi: Áp dụng không đúng đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi về cho vay vốn với lãi suất ưu đãi và hỗ trợ khác cho hoạt động nghiên cứu, chế tạo, sản xuất và cung cấp dịch vụ, phương tiện hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận công nghệ thông tin và truyền thông. Hành vi vi phạm được thể hiện qua việc: Xét duyệt và áp dụng chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp không đủ điều kiện theo quy định. Không bảo đảm nguyên tắc đúng đối tượng, đúng mục đích của chính sách ưu đãi. Làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức đủ điều kiện được hưởng chính sách.
Do đó, có thể bị xử phạt như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 30.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trên (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 98/2026/NĐ-CP trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân vi phạm phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị định này. Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do được ưu đãi triển khai dựu án
Tình huống 26:
Ông Nguyễn Văn H, 52 tuổi, là Chủ tịch Hội đồng xác định mức độ khuyết tật xã X. Trong quá trình giải quyết hồ sơ xác định mức độ khuyết tật cho người dân, ông H đã thỏa thuận với bà Trần Thị M để làm sai lệch kết quả đánh giá mức độ khuyết tật. Mặc dù bà M chỉ bị suy giảm khả năng lao động ở mức nhẹ, không đủ điều kiện xác định là người khuyết tật nặng, nhưng sau khi nhận của gia đình bà M số tiền 15 triệu đồng, ông H đã chỉ đạo các thành viên Hội đồng ghi nhận không đúng thực trạng sức khỏe, lập biên bản xác định bà M là người khuyết tật nặng. Trên cơ sở kết luận này, bà M được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng và các chính sách ưu đãi dành cho người khuyết tật nặng. Qua công tác thanh tra, cơ quan chức năng phát hiện hồ sơ có nhiều dấu hiệu bất thường. Kết quả xác minh xác định việc nâng mức độ khuyết tật không đúng thực tế nhằm giúp bà M được hưởng chính sách của Nhà nước, đồng thời ông H đã nhận tiền để thực hiện hành vi này. Do số tiền hưởng lợi và hậu quả của vụ việc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên hành vi của ông H bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Hành vi trên có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Hành vi của ông H có thể vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều 19 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về xác định mức độ khuyết tật. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng việc xác định mức độ khuyết tật để trục lợi nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ông Nguyễn Văn H đã thực hiện hành vi: Lợi dụng việc xác định mức độ khuyết tật để trục lợi nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi vi phạm được thể hiện ở các nội dung: Cố ý làm sai lệch kết quả xác định mức độ khuyết tật.Lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn trong quá trình xác định mức độ khuyết tật nhằm thu lợi bất chính. Làm phát sinh việc hưởng chính sách an sinh xã hội không đúng quy định.
Do đó có thể bị xử phạt như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 7.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông H (mức phạt tiền áp dụng trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, người vi phạm phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định định tại điểm c khoản 3 Điều 19 Nghị định này. Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ hành vi vi phạm.
Tình huống 27:
Anh Lê Văn T (35 tuổi) bị suy giảm chức năng vận động nhẹ do tai nạn lao động. Theo quy định, tình trạng sức khỏe của anh T chưa đủ điều kiện để được xác định là người khuyết tật. Để được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng và các chính sách ưu đãi dành cho người khuyết tật, anh T đã thỏa thuận với bà N là công chức phụ trách công tác lao động – xã hội của xã X và một thành viên Hội đồng xác định mức độ khuyết tật. Anh T cung cấp hồ sơ y tế đã bị chỉnh sửa, đồng thời khai báo không đúng thực trạng sức khỏe. Bà N đã cố ý bỏ qua việc kiểm tra, xác minh thực tế, tham mưu để Hội đồng xác định mức độ khuyết tật kết luận anh T là người khuyết tật nặng và trình Chủ tịch UBND xã cấp Giấy xác nhận khuyết tật. Sau đó, qua đợt thanh tra chuyên ngành, cơ quan có thẩm quyền phát hiện hồ sơ có nhiều tài liệu không đúng thực tế; kết quả kiểm tra lại xác định anh T không đủ điều kiện được xác định là người khuyết tật. Cơ quan chức năng kết luận các cá nhân liên quan đã có hành vi gian dối trong việc xác định mức độ khuyết tật và cấp Giấy xác nhận khuyết tật. Hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Hành vi trên có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại điểm c khoản 2 Điều 19 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về xác định mức độ khuyết tật quy định “Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi gian dối trong việc xác định mức độ khuyết tật, xác định lại mức độ khuyết tật, cấp giấy xác nhận khuyết tật, cấp lại giấy xác nhận khuyết tật.
Anh T và bà N đã thực hiện hành vi gian dối trong việc xác định mức độ khuyết tật, xác định lại mức độ khuyết tật, cấp giấy xác nhận khuyết tật, cấp lại giấy xác nhận khuyết tật. Hành vi vi phạm được thể hiện qua các nội dung: Cung cấp thông tin, tài liệu không đúng sự thật để làm căn cứ xác định mức độ khuyết tật, cố ý bỏ qua hoặc làm sai quy trình xác minh, đánh giá thực trạng khuyết tật. Tham mưu, xác nhận hoặc cấp Giấy xác nhận khuyết tật không đúng đối tượng, không đúng thực tế.
Anh T và bà N có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: (mức phạt áp dụng đối với cá nhân vi phạm hành chính trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
+ Phạt tiền 7.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của anh T;
+ Phạt tiền 7.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của bà N;
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, người vi phạm phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm c, điểm c khoản 3 Điều 19 Nghị định này.
+ Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ hành vi vi phạm (nếu đã phát sinh việc hưởng chế độ, chính sách không đúng quy định);
+ Buộc nộp lại giấy xác nhận khuyết tật.
Tình huống 28:
Ông Nguyễn Văn A, 72 tuổi, đang sinh sống tại thôn Y, xã X. Theo quy định của địa phương, người cao tuổi thuộc diện được miễn các khoản đóng góp tự nguyện cho một số hoạt động xã hội tại cộng đồng nhằm bảo đảm quyền lợi và tạo điều kiện để người cao tuổi tham gia đời sống xã hội phù hợp với khả năng. Năm 2026, Ban công tác mặt trận thôn Y triển khai vận động người dân đóng góp kinh phí xây dựng công trình phục vụ cộng đồng. Mặc dù ông A đã xuất trình giấy tờ chứng minh là người cao tuổi, nhưng Trưởng thôn và Ban vận động vẫn yêu cầu ông A phải đóng góp đầy đủ số tiền như các hộ gia đình khác, với lý do "mọi người đều phải tham gia để thể hiện trách nhiệm với cộng đồng". Ông A đã đề nghị được miễn khoản đóng góp theo chính sách dành cho người cao tuổi nhưng không được chấp nhận. Sau đó, ông A phản ánh sự việc đến UBND xã X. Qua kiểm tra, UBND xã xác định Ban vận động thôn đã không thực hiện việc miễn các khoản đóng góp cho người cao tuổi theo quy định, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông A. Hành vi này chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại điểm c khoản 1 Điều 20 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về quyền và nghĩa vụ đối với người cao tuổi quy định Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không miễn các khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội đối với người cao tuổi”.
Ban vận động thôn Y và cá nhân có trách nhiệm thực hiện việc vận động đóng góp đã có hành vi: Không miễn các khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội đối với người cao tuổi. Hành vi vi phạm thể hiện ở việc: Không thực hiện chính sách miễn đóng góp đối với người cao tuổi theo quy định của pháp luật. Yêu cầu người cao tuổi tham gia đóng góp như các đối tượng khác khi thuộc trường hợp được miễn. Làm ảnh hưởng đến quyền được bảo vệ, hỗ trợ và tạo điều kiện tham gia xã hội của người cao tuổi.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 4.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm cảu Ban vận động thôn Y ( mức phạt áp dụng đối với cá nhân vi phạm hành chính trong trường hợp không có tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, cá nhân, tổ chức vi phạm phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại diểm c khoản 3 Điều 20 Nghị định này: Buộc hoàn trả khoản tiền đã thu không đúng quy định cho người cao tuổi (nếu đã thu).
Tình huống 29:
Bà Trần Thị B, 75 tuổi, cư trú tại xã X thuộc đối tượng được hưởng khoản tiền hỗ trợ của Nhà nước dành cho người cao tuổi theo quy định. Theo danh sách được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, bà B được hưởng khoản hỗ trợ hằng tháng và việc chi trả được thực hiện thông qua tổ chức dịch vụ chi trả trên địa bàn. Tuy nhiên, trong thời gian 04 tháng liên tiếp, ông Nguyễn Văn C là nhân viên được giao thực hiện nhiệm vụ chi trả tại địa phương đã không thực hiện việc chi trả khoản tiền hỗ trợ cho bà B theo đúng thời gian quy định. Khi bà B đến hỏi, ông C cho biết do "chưa sắp xếp được thời gian" nên chưa thực hiện chi trả, nhưng thực tế số tiền hỗ trợ của bà B đã được đơn vị chuyển về để chi trả theo danh sách. Qua kiểm tra, cơ quan chức năng xác định ông C đã không thực hiện chi trả khoản tiền hỗ trợ của Nhà nước cho bà B theo quy định, làm ảnh hưởng đến quyền được hưởng chính sách hỗ trợ của người cao tuổi. Hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại điểm đ khoản 1 Điều 20 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về quyền và nghĩa vụ đối với người cao tuổi quy định “Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện chi trả khoản tiền hỗ trợ của Nhà nước cho người cao tuổi theo quy định.
Ông Nguyễn Văn C đã thực hiện hành vi không thực hiện chi trả khoản tiền hỗ trợ của Nhà nước cho người cao tuổi theo quy định. Hành vi vi phạm được xác định gồm: Không thực hiện việc chi trả khoản tiền hỗ trợ mà người cao tuổi đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hưởng, chậm trễ, không bảo đảm quyền được nhận hỗ trợ của người cao tuổi theo thời gian quy định. Làm ảnh hưởng đến việc thụ hưởng chính sách an sinh xã hội của người cao tuổi.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 4.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông C (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, người vi phạm phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 20 Nghị định này. Buộc ông C phải thực hiện việc chi trả đầy đủ khoản tiền hỗ trợ của Nhà nước cho bà B là người cao tuổi theo đúng quy định.
Tình huống 30:
Ông Nguyễn Văn A, 78 tuổi, là người cao tuổi đang sống cùng gia đình con trai là anh Nguyễn Văn B tại xã X. Do tuổi cao, sức khỏe yếu và khả năng lao động hạn chế, ông A cần được gia đình quan tâm, chăm sóc theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống, do mâu thuẫn gia đình và cho rằng ông A là gánh nặng, anh B đã yêu cầu ông A chuyển ra ở tại căn nhà tạm phía sau khu chăn nuôi của gia đình. Khu vực này thường xuyên có mùi hóa chất, chất thải chăn nuôi, không bảo đảm điều kiện vệ sinh, có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe. Mặc dù ông A nhiều lần đề nghị được chuyển đến nơi ở phù hợp hơn nhưng anh B không đồng ý, tiếp tục để ông A sinh hoạt trong môi trường ô nhiễm, thiếu điều kiện bảo đảm an toàn. Ngoài ra, anh B còn thường xuyên bỏ mặc, không quan tâm đến nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của ông A. Hàng xóm phát hiện sự việc đã phản ánh đến UBND xã X. Qua kiểm tra, xác minh, cơ quan chức năng kết luận anh B đã có hành vi bắt người cao tuổi phải sống trong môi trường độc hại, nguy hiểm và có hành vi đối xử tồi tệ với người cao tuổi. Hành vi chưa gây hậu quả đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại khoản 2 Điều 20 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về quyền và nghĩa vụ đối với người cao tuổi quy định “Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối hành vi: bắt sống ở nơi có môi trường độc hại, nguy hiểm hoặc thực hiện các hình thức đối xử tồi tệ khác với người cao tuổi nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”.
Anh Nguyễn Văn B đã bắt ông A sống ở nơi có môi trường độc hại, nguy hiểm, bỏ mặc không quan tâm tới nhu cầu tối thiểu của ông A là người cao tuổi nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của anh Nguyễn Văn B ( mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, người vi phạm phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a, điểm d khoản 3 Điều này:
+ Buộc anh B phải chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho ông A  bị ảnh hưởng sức khỏe;
+ Buộc anh B phải xin lỗi khi có yêu cầu.
Tình huống 31:
Bà Nguyễn Thị H, 82 tuổi, là người cao tuổi không còn khả năng lao động, sức khỏe yếu và đang được con trai là ông Trần Văn M trực tiếp chăm sóc, phụng dưỡng tại gia đình. Theo thỏa thuận trong gia đình và quy định của pháp luật, ông M có trách nhiệm chăm sóc, bảo đảm các nhu cầu sinh hoạt, sức khỏe và đời sống tinh thần cho bà H. Tuy nhiên, trong quá trình chăm sóc, ông M đã lợi dụng việc đứng ra chăm sóc mẹ để thực hiện hành vi trục lợi. Cụ thể, ông M đã sử dụng giấy tờ, thông tin về tình trạng sức khỏe và hoàn cảnh của bà H để làm hồ sơ xin hỗ trợ, vận động các tổ chức, cá nhân hỗ trợ kinh phí chăm sóc người cao tuổi. Sau khi nhận được các khoản tiền hỗ trợ, ông M không sử dụng cho việc chăm sóc, phụng dưỡng bà H mà sử dụng vào mục đích cá nhân như chi tiêu cá nhân, trả nợ và mua sắm tài sản riêng. Ngoài ra, ông M còn yêu cầu bà H giao lại một phần tiền trợ cấp, tiền hỗ trợ được Nhà nước cấp với lý do "chi phí nuôi dưỡng", nhưng không thực hiện đầy đủ việc chăm sóc, bảo đảm các nhu cầu thiết yếu của bà H. Qua phản ánh của người thân và kiểm tra của cơ quan chức năng, hành vi của ông M được xác định là lợi dụng việc chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi để trục lợi. Do số tiền, mức độ hậu quả chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên ông M bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Ông Trần Văn M đã lợi dụng trách nhiệm chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi để chiếm giữ, sử dụng không đúng mục đích các khoản tiền, tài sản hỗ trợ dành cho người cao tuổi. không sử dụng các khoản hỗ trợ, trợ cấp đúng với mục đích chăm sóc, bảo đảm đời sống của người cao tuổi. Đặt lợi ích cá nhân lên trên trách nhiệm chăm sóc, phụng dưỡng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người cao tuổi.
Hành vi của ông M đã vi phạm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 21 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng việc chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi để trục lợi nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 7.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông M (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, người vi phạm phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 2 Điều 21 Nghị định 98/2026/NĐ-CP: Buộc ông M phải nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm mà có.
Tình huống 32:
Cháu Nguyễn Văn K, 8 tuổi, đang sống cùng cha là ông Nguyễn Văn H và mẹ là bà Trần Thị M tại xã X. Theo quy định, cha mẹ có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo đảm các điều kiện cần thiết về ăn, mặc, ở, học tập, chăm sóc sức khỏe và phát triển toàn diện cho trẻ em. Tuy nhiên, do thường xuyên đi làm xa và không quan tâm đến việc chăm sóc con, ông H và bà M đã nhiều lần để cháu K tự sinh hoạt, không có người giám sát, chăm sóc. Trong thời gian dài, cháu K không được bảo đảm đầy đủ các nhu cầu thiết yếu như ăn uống, vệ sinh cá nhân, chăm sóc sức khỏe; việc học tập của cháu cũng bị bỏ bê, nhiều lần phải nghỉ học nhưng cha mẹ không có biện pháp hỗ trợ, động viên. Khi cháu K bị ốm, gia đình không đưa đi khám chữa bệnh kịp thời mặc dù đã được người thân và giáo viên thông báo. Nhà trường và hàng xóm đã phản ánh sự việc đến UBND xã X.
Qua xác minh, cơ quan chức năng xác định ông H và bà M là cha mẹ của cháu K nhưng đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em. Trường hợp này không thuộc trường hợp cha mẹ bị buộc phải tạm thời cách ly trẻ em hoặc trẻ em được chăm sóc thay thế theo quy định pháp luật. Do hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, ông H và bà M bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm a khoản 1 Điều 22 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em quy định Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em trừ trường hợp bị buộc phải tạm thời cách ly trẻ em hoặc trẻ em được chăm sóc thay thế theo quy định của pháp luật;
Ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị M đã thực hiện hành vi không bảo đảm các điều kiện cần thiết để trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển bình thường, không quan tâm, theo dõi, chăm sóc sức khỏe, sinh hoạt và học tập của trẻ em. Để trẻ em rơi vào tình trạng thiếu sự chăm sóc, quản lý cần thiết.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.
+ Phạt tiền 12.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông H;
+ Phạt tiền 12.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của bà M;
Tình huống 33:
Cháu Trần Minh K, 3 tuổi, là con của chị Nguyễn Thị A và anh Lê Văn B. Sau khi ly hôn, chị A được giao trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K theo thỏa thuận của hai bên. Do gặp khó khăn về kinh tế và không muốn tiếp tục nuôi con, chị A đã nảy sinh ý định bỏ rơi cháu K. Một buổi tối, chị A đưa cháu K đến khu vực cổng của một cơ sở tôn giáo, để cháu lại cùng một số vật dụng cá nhân và rời đi mà không thông báo cho người thân, chính quyền địa phương hoặc cơ quan có trách nhiệm bảo vệ trẻ em. Sau đó, người dân phát hiện cháu K đang trong tình trạng hoảng sợ, không có người chăm sóc nên đã báo tin cho UBND xã X. Cơ quan chức năng đã xác minh, làm rõ chị A là mẹ ruột của cháu K, có đầy đủ điều kiện nhận lại và chăm sóc con nhưng đã cố ý bỏ rơi cháu. Hành vi của chị A chưa gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự nên bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Khoản 2 Điều 22 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em quy định: Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em có hành vi cố ý bỏ rơi trẻ em nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Chị Nguyễn Thị A đã thực hiện hành vi là cha, mẹ của trẻ em nhưng không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ trẻ.Cố ý đưa trẻ đến nơi khác và rời bỏ trẻ, không có biện pháp bảo đảm an toàn, sức khỏe, đời sống của trẻ. Hành vi này không thuộc trường hợp trẻ em được chăm sóc thay thế hợp pháp hoặc cha, mẹ bị buộc phải tạm thời cách ly trẻ em theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:  
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 22.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của chị Nguyễn Thị A (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Nghị định 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm tại Điều 22 Nghị định này.
Tình huống 34:
Cháu Nguyễn Thị H, 10 tuổi, là con của anh Trần Văn M và chị Lê Thị N. Sau khi ly hôn, cháu H sống cùng mẹ và được chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong quá trình nuôi con, do thường xuyên có mâu thuẫn và áp lực trong cuộc sống, chị N nhiều lần có hành vi xúc phạm, chửi mắng, hạ thấp nhân phẩm của cháu H. Mỗi khi cháu học tập chưa tốt hoặc làm việc nhà chưa đạt yêu cầu, chị N thường xuyên dùng những lời lẽ miệt thị, gọi cháu bằng những từ ngữ xúc phạm, đe dọa đuổi cháu ra khỏi nhà. Ngoài ra, chị N còn hạn chế cháu H tiếp xúc với người thân, bạn bè; không cho cháu tham gia các hoạt động sinh hoạt tập thể tại trường trong thời gian dài nhằm "phạt" cháu. Việc này khiến cháu H trở nên sợ hãi, tự ti, ít giao tiếp, kết quả học tập giảm sút. Giáo viên chủ nhiệm nhận thấy sự thay đổi bất thường về tâm lý của cháu H nên đã phối hợp với nhà trường và chính quyền địa phương xác minh sự việc. Qua kiểm tra, cơ quan chức năng xác định chị N đã có hành vi gây tổn hại về tinh thần, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, lăng mạ, chửi mắng, đe dọa, cách ly làm ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em. Hành vi của chị N chưa gây hậu quả nghiêm trọng đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về cấm bạo lực với trẻ em quy định: “Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm gây tổn hại về tinh thần, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, lăng mạ, chửi mắng, đe dọa, cách ly ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em; nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.”
Chị Lê Thị N đã thực hiện hành vi xúc phạm, miệt thị, chửi mắng làm tổn thương danh dự, nhân phẩm, đe dọa gây ảnh hưởng đến tâm lý, cảm giác an toàn của trẻ của em H. Gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển về tâm lý, tình cảm, kỹ năng xã hội của trẻ em. Đây là hành vi bạo lực tinh thần đối với trẻ em, xâm phạm quyền được bảo vệ khỏi hành vi bạo lực, xúc phạm danh dự, nhân phẩm theo quy định pháp luật.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của chị Lê Thị N (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, chị Lê Thị N phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị định này. Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho em H (trường hợp gây thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe) và chấm dứt hành vi bạo lực tinh thần, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của trẻ em.
Tình huống 35:
Cháu Phạm Minh T, 7 tuổi, hiện đang sống cùng mẹ là bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn P (là cha dượng) tại xã X. Trong quá trình sinh sống, do muốn ép cháu T phải nghe lời và làm theo yêu cầu của mình, ông P thường xuyên sử dụng các hình thức đe dọa gây sợ hãi đối với cháu. Cụ thể, mỗi khi cháu không hoàn thành việc học hoặc làm sai việc nhà, ông P thường bật các âm thanh kinh dị, sử dụng hình ảnh ma quỷ, cầm các đồ vật nguy hiểm để dọa cháu; có lần còn nhốt cháu trong phòng tối trong thời gian ngắn để "dạy bảo". Những hành vi trên diễn ra trong thời gian dài khiến cháu T luôn trong trạng thái lo lắng, sợ hãi, mất ngủ, không muốn giao tiếp với người thân và bạn bè. Giáo viên chủ nhiệm nhận thấy cháu có biểu hiện bất thường về tâm lý nên đã trao đổi với gia đình và báo cáo UBND xã. Qua xác minh, cơ quan chức năng xác định ông P đã nhiều lần thực hiện hành vi đe dọa trẻ em bằng hình ảnh, âm thanh, đồ vật nhằm gây sợ hãi, ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần và sự phát triển của cháu T. Hành vi chưa gây hậu quả đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên ông P bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại điểm đ khoản 1 Điều 23 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về cấm bạo lực với trẻ em quy định “Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm thường xuyên đe dọa trẻ em bằng các hình ảnh, âm thanh, con vật, đồ vật làm trẻ em sợ hãi, tổn hại về tinh thần.nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.”
Ông Nguyễn Văn P đã thực hiện hành vi dùng đồ vật, tình huống giả định nguy hiểm nhằm uy hiếp tinh thần trẻ, lặp đi lặp lại hành vi đe dọa trong thời gian dài. Làm trẻ em có biểu hiện lo lắng, sợ hãi, ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập và sự phát triển tâm lý. Đây là hành vi bạo lực tinh thần đối với trẻ em, xâm phạm quyền được bảo vệ của trẻ em khỏi các hành vi gây tổn hại về tinh thần.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:  
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính của ông P (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, ông Nguyễn Văn P phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 2 Điều 23 Nghị định này.
+ Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho cháu T (trường hợp gây thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe) và chấm dứt hành vi bạo lực tinh thần, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của trẻ em;
+ Buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe cho cháu T.
Tình huống 36:
Cháu Nguyễn Thị L, 12 tuổi, đang sống cùng cha là ông Nguyễn Văn H và mẹ là bà Trần Thị M tại xã X. Do gia đình kinh doanh dịch vụ ăn uống nhỏ tại nhà, ông H và bà M thường xuyên yêu cầu cháu L thực hiện nhiều công việc gia đình vượt quá khả năng và độ tuổi của cháu. Hằng ngày, sau giờ học, cháu L phải nấu ăn, dọn dẹp toàn bộ nhà cửa, giặt giũ, phục vụ khách hàng đến khuya. Vào những ngày cuối tuần hoặc nghỉ học, cháu còn phải làm việc liên tục nhiều giờ, không có thời gian nghỉ ngơi, vui chơi, tham gia các hoạt động phù hợp với lứa tuổi. Mặc dù giáo viên chủ nhiệm đã nhiều lần trao đổi về việc cháu L có biểu hiện mệt mỏi, giảm sút kết quả học tập, thường xuyên ngủ gật trên lớp, nhưng ông H và bà M vẫn cho rằng đây là trách nhiệm của con trong gia đình và tiếp tục yêu cầu cháu làm các công việc quá sức. Sau khi nhận được phản ánh của nhà trường, UBND xã X đã tiến hành xác minh. Kết quả xác định ông H và bà M đã buộc cháu L thực hiện khối lượng công việc gia đình không phù hợp với độ tuổi, sức khỏe, khả năng của trẻ em, ảnh hưởng đến việc học tập, nghỉ ngơi và phát triển toàn diện của cháu. Hành vi của ông H và bà M chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại khoản 1 Điều 24 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về cấm lạm dụng, bóc lột trẻ em quy định “Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi bắt trẻ em làm công việc gia đình quá sức, quá thời gian, ảnh hưởng đến việc học tập, vui chơi, giải trí, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ em.
Ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị M đã thực hiện hành vi yêu cầu cháu L thực hiện khối lượng công việc gia đình vượt quá khả năng, độ tuổi và sức khỏe, không bảo đảm cho trẻ em có thời gian nghỉ ngơi, học tập, vui chơi, tham gia các hoạt động phát triển phù hợp.Đặt trách nhiệm lao động gia đình không phù hợp lên trẻ em thay vì phân công công việc phù hợp với lứa tuổi. Hành vi này là biểu hiện của việc lạm dụng sức lao động của trẻ em, xâm phạm quyền được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và phát triển toàn diện của trẻ em.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:  
- Hình thức xử phạt chính: mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.
+ Phạt tiền 25.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông Nguyễn Văn H;
+ Phạt tiền 25.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của bà Trần Thị M.
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị M phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều này: Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho cháu L (nếu hành vi vi phạm mà gây ra thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe cho trẻ em nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự) và chấm dứt việc bắt trẻ em thực hiện công việc gia đình quá sức.
Tình huống 37:
Cháu Trần Văn K, 13 tuổi, là học sinh trung học cơ sở, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thường xuyên phải phụ giúp gia đình. Biết được hoàn cảnh của cháu K, ông Nguyễn Văn P (35 tuổi, kinh doanh dịch vụ giải trí) đã tiếp cận, dụ dỗ cháu K bằng lời hứa sẽ cho tiền tiêu dùng và hỗ trợ việc làm nhẹ nhàng. Sau đó, ông P hướng dẫn cháu K làm trung gian giới thiệu một số bạn cùng độ tuổi với cháu cho các cơ sở kinh doanh dịch vụ để thực hiện các công việc không phù hợp với trẻ em, có nguy cơ bị bóc lột. Ông P còn yêu cầu cháu K tìm kiếm, rủ rê các bạn có hoàn cảnh khó khăn tham gia, đồng thời hứa trả tiền cho mỗi trường hợp giới thiệu thành công. Khi một số cháu không đồng ý, ông P gây áp lực, đe dọa sẽ không trả tiền và yêu cầu cháu K tiếp tục thuyết phục, lôi kéo. Sau khi nhận được phản ánh của phụ huynh và nhà trường, cơ quan chức năng tiến hành xác minh, phát hiện ông P đã có hành vi dụ dỗ, lôi kéo, lợi dụng trẻ em làm trung gian giao dịch nhằm phục vụ hoạt động có dấu hiệu bóc lột trẻ em. Hành vi của ông P chưa gây hậu quả đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về cấm lạm dụng, bóc lột trẻ em quy định: Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi dẫn dắt, rủ rê, xúi giục, dụ dỗ, lôi kéo, kích động, lợi dụng, ép buộc làm trung gian giao dịch hoạt động bóc lột trẻ em; nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.”
Ông Nguyễn Văn P đã thực hiện hành vi tiếp cận cháu K có hoàn cảnh khó khăn để tác động, dụ dỗ tham gia hoạt động trái với quy định bảo vệ trẻ em hứa hẹn lợi ích vật chất để trẻ em thực hiện việc giới thiệu, lôi kéo trẻ em khác. Đây là hành vi xâm phạm quyền được bảo vệ của trẻ em khỏi các hành vi lạm dụng, bóc lột; làm gia tăng nguy cơ trẻ em bị xâm hại, bị lợi dụng sức lao động hoặc bị khai thác vì mục đích vụ lợi.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 35.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông Nguyễn Văn P (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, ông Nguyễn Văn P phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 4 Điều 24 Nghị định này:
+ Buộc ông P nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm mà có theo quy định của pháp luật;
+  Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp nếu có gây ra thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe cho trẻ em nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tình huống 38:
Cháu Nguyễn Thị H, 10 tuổi, là học sinh tiểu học tại xã X. Mẹ cháu H là bà Trần Thị M thường xuyên đăng tải hình ảnh, video của con lên mạng xã hội cá nhân để chia sẻ về cuộc sống gia đình. Ông Nguyễn Văn P là người kinh doanh bán hàng trực tuyến. Biết cháu H có nhiều lượt theo dõi trên mạng xã hội, ông P đã tự ý sử dụng hình ảnh, thông tin cá nhân của cháu H (gồm họ tên, độ tuổi, trường học, hoàn cảnh gia đình) để tạo các video quảng cáo, nội dung câu view nhằm thu hút người xem và tăng doanh thu bán hàng. Trong một số video, ông P đã cắt ghép hình ảnh cháu H vào những nội dung gây tranh cãi, sử dụng lời dẫn không phù hợp với lứa tuổi, khai thác hoàn cảnh cá nhân của cháu để tạo sự chú ý, làm ảnh hưởng đến tâm lý, uy tín và sự phát triển bình thường của cháu. Mặc dù gia đình cháu H đã yêu cầu ông P gỡ bỏ các nội dung trên nhưng ông P không thực hiện ngay mà tiếp tục sử dụng hình ảnh, thông tin của cháu để quảng bá sản phẩm. Qua kiểm tra, cơ quan chức năng xác định hành vi của ông P đã xâm phạm quyền riêng tư, quyền được bảo vệ hình ảnh, thông tin cá nhân của trẻ em và gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển tinh thần của trẻ. Hành vi của ông P chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại khoản 3 Điều 24 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về cấm lạm dụng, bóc lột trẻ em quy định Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng hình ảnh, thông tin cá nhân của trẻ em để tạo ra nội dung gây tổn hại đến sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ hoặc để trục lợi nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ông Nguyễn Văn P đã thực hiện hành vi tự ý khai thác, sử dụng hình ảnh, thông tin cá nhân của trẻ em khi chưa được sự đồng ý hợp pháp nhằm mục đích thu hút sự chú ý, quảng cáo, tăng lợi ích kinh tế. Hành vi này xâm phạm quyền bí mật đời sống riêng tư, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm và sự phát triển toàn diện của trẻ em.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:  
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 45.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông Nguyễn Văn P (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, ông Nguyễn Văn P phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 4 Điều 24 Nghị định này:
+ Buộc ông P nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm mà có theo quy định của pháp luật;
+  Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp nếu có gây ra thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe cho trẻ em nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tình huống 39:
Ông Nguyễn Văn T, 40 tuổi, là chủ một cửa hàng kinh doanh dịch vụ trên địa bàn xã X. Do có mâu thuẫn cá nhân với bà Lê Thị H là người kinh doanh cùng khu vực, ông T đã nảy sinh ý định xúc phạm, hạ thấp uy tín của bà H trên mạng xã hội. Ông T biết cháu Nguyễn Văn K, 14 tuổi, là học sinh trong khu phố, thường xuyên sử dụng mạng xã hội và có nhiều bạn bè trực tuyến nên đã nhờ cháu K đăng tải các bài viết, hình ảnh có nội dung sai lệch, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà H lên các trang mạng xã hội. Để thuyết phục cháu K thực hiện, ông T hứa sẽ cho tiền và hướng dẫn cháu cách viết nội dung nhằm thu hút sự chú ý của người xem. Sau khi các bài viết được đăng tải, nhiều người đã chia sẻ, bình luận tiêu cực về bà H, gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín và đời sống tinh thần của bà. Sau khi nhận được phản ánh, cơ quan chức năng tiến hành xác minh và xác định ông T là người chỉ đạo, sử dụng cháu K thực hiện hành vi đăng tải nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác. Hành vi chưa gây hậu quả đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định pháp luật, ông Nguyễn Văn T bị xử phạt vi phạm hành chính như sau. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại điểm a khoản 1 Điều 25 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về cấm sử dụng, rủ rê, xúi giục, kích động, lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc trẻ em thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác quy định Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng trẻ em thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.”
Ông Nguyễn Văn T đã thực hiện hành vi sử dụng trẻ em (cháu K, 14 tuổi) để thực hiện hành vi đăng tải thông tin xúc phạm người khác. Lợi dụng sự non nớt về nhận thức, kinh nghiệm sống của trẻ em để phục vụ mục đích cá nhân. Hành vi của ông T không chỉ xâm phạm danh dự, nhân phẩm của bà H mà còn xâm phạm quyền được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục của trẻ em; biến trẻ em thành công cụ thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:  
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 12.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông T (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, ông Nguyễn Văn T phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 2 Điều 25 Nghị định này. Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em mà gây ra thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe cho trẻ em nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, chấm dứt việc sử dụng trẻ em để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, gỡ bỏ, xóa bỏ các thông tin, bài viết, hình ảnh có nội dung xúc phạm đã đăng tải, phát tán (nếu có).
Tình huống 40:
Ông Trần Văn P, 38 tuổi, có mâu thuẫn với bà Nguyễn Thị H là chủ một cửa hàng kinh doanh gần nhà. Do muốn làm giảm uy tín của bà H, ông P đã tìm cách đưa các thông tin sai lệch, xúc phạm bà H lên mạng xã hội. Biết cháu Nguyễn Văn K, 13 tuổi, là học sinh thường xuyên sử dụng điện thoại thông minh và có nhiều bạn bè trên mạng xã hội, ông P đã tiếp cận, trò chuyện và dụ dỗ cháu K tham gia đăng tải các bài viết, hình ảnh có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà H. Ông P nói với cháu K rằng việc đăng tải các nội dung trên chỉ là “trò đùa trên mạng”, đồng thời hứa sẽ cho cháu tiền nếu thực hiện theo yêu cầu. Do chưa nhận thức đầy đủ về hậu quả của hành vi, cháu K đã làm theo hướng dẫn của ông P và chia sẻ các nội dung xúc phạm bà H trên mạng xã hội. Sau khi phát hiện sự việc, bà H gửi đơn phản ánh đến cơ quan chức năng. Qua xác minh, cơ quan có thẩm quyền xác định ông P đã có hành vi lợi dụng sự thiếu hiểu biết, nhận thức chưa đầy đủ của trẻ em để dụ dỗ, lôi kéo cháu K thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác. Hành vi của ông P chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
điểm d khoản 1 Điều 25 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về cấm sử dụng, rủ rê, xúi giục, kích động, lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc trẻ em thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác quy định “Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi  Lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.”
Ông Trần Văn P đã thực hiện hành vi: Chủ động tiếp cận trẻ em để tác động, dụ dỗ thực hiện hành vi trái pháp luật, lợi dụng sự hạn chế về nhận thức, kinh nghiệm sống của trẻ em để thực hiện mục đích cá nhân đưa ra lợi ích vật chất nhằm lôi kéo trẻ em tham gia đăng tải nội dung xúc phạm người khác. Làm cho trẻ em trở thành người trực tiếp thực hiện hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân khác. Hành vi của ông P gây ảnh hưởng đến sự phát triển nhận thức, đạo đức của trẻ em, đồng thời xâm phạm quyền được bảo vệ về danh dự, nhân phẩm của người bị xúc phạm.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 12.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông P (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, ông Trần Văn P phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 2 Điều 25 Nghị định này: Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em mà gây ra thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe cho trẻ em nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, chấm dứt hành vi lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Tình huống 41:
Chị Nguyễn Thị M, 35 tuổi, là mẹ của cháu Nguyễn Văn A, 7 tuổi. Sau khi ly hôn, chị M trực tiếp nuôi dưỡng cháu A. Do thường xuyên bận rộn với công việc kinh doanh và ít quan tâm đến việc chăm sóc con, chị M không thực hiện đầy đủ trách nhiệm bảo đảm chế độ dinh dưỡng phù hợp với độ tuổi và nhu cầu phát triển của trẻ. Trong thời gian dài, cháu A thường xuyên phải ăn uống không đúng bữa, khẩu phần ăn chủ yếu là thức ăn đơn giản, thiếu chất dinh dưỡng cần thiết. Chị M ít bổ sung các nhóm thực phẩm cần thiết như chất đạm, vitamin, khoáng chất; không theo dõi tình trạng sức khỏe, thể chất của con. Khi giáo viên phát hiện cháu A có biểu hiện suy dinh dưỡng, thể lực giảm sút, nhà trường đã trao đổi, nhắc nhở nhưng chị M không có biện pháp điều chỉnh chế độ chăm sóc. Qua kiểm tra, cơ quan chức năng xác định chị M đã không thực hiện trách nhiệm của người chăm sóc trẻ em trong việc bảo đảm chế độ dinh dưỡng phù hợp với sự phát triển thể chất, tinh thần của trẻ theo độ tuổi. Hành vi này chưa gây hậu quả nghiêm trọng đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định pháp luật, chị Nguyễn Thị M bị xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại điểm a khoản 1 Điều 26 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em quy định Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện trách nhiệm bảo đảm chế độ dinh dưỡng phù hợp với sự phát triển thể chất, tinh thần của trẻ em theo từng độ tuổi”.
Chị Nguyễn Thị M đã thực hiện hành vi là người có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em nhưng không bảo đảm chế độ ăn uống phù hợp với độ tuổi của trẻ, không cung cấp đầy đủ các điều kiện dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển bình thường của trẻ, không quan tâm, theo dõi và điều chỉnh chế độ dinh dưỡng khi trẻ có dấu hiệu ảnh hưởng đến sức khỏe.Vi phạm quyền được chăm sóc sức khỏe, được bảo đảm phát triển toàn diện của trẻ em. Hành vi của chị M làm ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần của trẻ em và không bảo đảm trách nhiệm chăm sóc trẻ theo quy định pháp luật.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 2.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của chị M (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Nghị định số 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều 26 Nghị định này.
Tình huống 42:
Chị Lê Thị H, 28 tuổi, đang mang thai con đầu lòng. Trong thời gian mang thai, chị H được cơ sở y tế tư vấn cần thực hiện các dịch vụ khám thai định kỳ, xét nghiệm sàng lọc trước sinh nhằm phát hiện sớm một số bệnh, dị tật bẩm sinh ở trẻ để có biện pháp can thiệp, chăm sóc phù hợp. Tuy nhiên, do ông Trần Văn K là chồng chị H có quan niệm sai lầm cho rằng việc khám, xét nghiệm sàng lọc trước sinh là không cần thiết và tốn kém, ông K nhiều lần ngăn cản, không cho chị H đến cơ sở y tế để thực hiện các dịch vụ tư vấn, sàng lọc theo hướng dẫn của nhân viên y tế. Mặc dù chị H đã được cán bộ y tế giải thích về lợi ích của việc sàng lọc, phòng ngừa bệnh tật bẩm sinh cho trẻ em, nhưng ông K vẫn gây áp lực, giữ giấy tờ, hạn chế việc đi lại và không cho chị H tiếp cận dịch vụ y tế trong thời gian dài. Qua phản ánh của gia đình chị H, cơ quan chức năng tiến hành xác minh và xác định ông K đã có hành vi cản trở phụ nữ mang thai tiếp cận dịch vụ y tế để được tư vấn sàng lọc, phòng ngừa các bệnh tật bẩm sinh cho trẻ em. Hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định pháp luật, ông Trần Văn K bị xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại điểm a khoản 2 Điều 26 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em. “Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện, cản trở phụ nữ mang thai tiếp cận dịch vụ y tế để được tư vấn sàng lọc, phòng ngừa các bệnh tật bẩm sinh cho trẻ em.”
Ông Trần Văn K đã thực hiện hành vi dù biết chị H đang mang thai và có nhu cầu thực hiện các dịch vụ y tế cần thiết nhưng vẫn cố tình ngăn cản. Không tạo điều kiện để phụ nữ mang thai được tiếp cận hoạt động tư vấn, khám, sàng lọc trước sinh, làm ảnh hưởng đến cơ hội phát hiện sớm nguy cơ bệnh tật, dị tật bẩm sinh ở trẻ em. Xâm phạm quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em ngay từ giai đoạn trước khi sinh. Hành vi của ông K không chỉ ảnh hưởng đến quyền chăm sóc sức khỏe của phụ nữ mang thai mà còn có thể ảnh hưởng đến việc phòng ngừa, phát hiện sớm và can thiệp đối với các bệnh tật bẩm sinh của trẻ.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 4.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông K (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Nghị định số 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều 26 Nghị định này.
Tình huống 43:
Gia đình ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị H sinh sống tại một vùng nông thôn. Theo phong tục lâu đời của dòng họ, gia đình cho rằng trẻ nhỏ khi bị ốm không nên đưa đến cơ sở y tế ngay mà cần thực hiện các nghi lễ dân gian và sử dụng một số phương pháp chữa bệnh truyền miệng. Tháng 7/2026, con gái ông bà là cháu Nguyễn Thị M, 3 tuổi, bị sốt cao, bỏ ăn và có dấu hiệu mệt mỏi. Mặc dù người thân và cán bộ y tế địa phương khuyên đưa cháu đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để được kiểm tra, điều trị, nhưng ông T và bà H cho rằng bệnh của cháu là do “phạm vía”, “phải làm lễ theo phong tục mới khỏi” nên tiếp tục giữ cháu ở nhà, áp dụng các phương pháp dân gian không có căn cứ khoa học trong nhiều ngày. Do không được chăm sóc y tế kịp thời, tình trạng sức khỏe của cháu M diễn biến xấu, phải nhập viện điều trị. Qua kiểm tra, cơ quan chức năng xác định ông T và bà H đã áp dụng phong tục, tập quán có hại, làm ảnh hưởng đến quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em. Hành vi chưa gây hậu quả đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định pháp luật, ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị H bị xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Điểm c khoản 2 Điều 26 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em quy định “Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi Áp dụng phong tục, tập quán có hại, ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em.”
Ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị H đã thực hiện hành vi chăm sóc trẻ áp dụng các quan niệm, phong tục không phù hợp với yêu cầu chăm sóc sức khỏe trẻ em, không đưa trẻ đến cơ sở y tế khi trẻ có dấu hiệu bệnh cần được khám, điều trị. Làm chậm quá trình phát hiện, điều trị bệnh, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ em.Việc bảo tồn phong tục, tập quán cần phù hợp với quy định pháp luật; những tập quán gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng và sự phát triển của trẻ em không được phép áp dụng.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
+ Phạt tiền 4.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông Nguyễn Văn T;
+ Phạt tiền 4.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của bà Trần Thị H.
- Nghị định số 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều 26 Nghị định này.
Tình huống 44
Anh Nguyễn Văn M và chị Trần Thị N là cha mẹ của cháu Nguyễn Minh A, 12 tuổi, đang học lớp 6 tại Trường Trung học cơ sở X. Theo quy định của nhà trường và thỏa thuận thực hiện nghĩa vụ của cha mẹ học sinh, anh M và chị N có trách nhiệm thực hiện các khoản đóng góp phục vụ việc học tập của cháu A theo quy định, bao gồm các khoản chi phí cần thiết thuộc trách nhiệm của gia đình để bảo đảm điều kiện học tập của trẻ. Tuy nhiên, mặc dù có đầy đủ khả năng kinh tế, anh M cố tình không thực hiện nghĩa vụ đóng góp các khoản phục vụ việc học tập của cháu A trong thời gian dài. Nhà trường nhiều lần thông báo, nhắc nhở và vận động nhưng anh M vẫn từ chối thực hiện với lý do không muốn chi trả, dẫn đến việc cháu A gặp khó khăn trong việc tham gia một số hoạt động học tập, sinh hoạt giáo dục của nhà trường. Qua xác minh, cơ quan chức năng xác định anh Nguyễn Văn M đã cố ý không thực hiện nghĩa vụ đóng góp cho việc học tập của trẻ em theo quy định của pháp luật. Hành vi của anh M chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định pháp luật, anh Nguyễn Văn M bị xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Điểm b khoản 1 Điều 27 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về quyền được giáo dục của trẻ em quy định “Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi cố ý không thực hiện nghĩa vụ đóng góp cho việc học tập của trẻ em theo quy định của pháp luật.”
Anh Nguyễn Văn M và chị đã thực hiện hành vi cố ý không thực hiện nghĩa vụ đóng góp cho việc học tập của trẻ em theo quy định của pháp luật mặc dù anh M biết rõ nghĩa vụ đóng góp phục vụ việc học tập của con nhưng cố tình không thực hiện. Cha mẹ, người chăm sóc trẻ em có trách nhiệm tạo điều kiện để trẻ em được học tập, phát triển năng lực, bảo đảm quyền được giáo dục theo quy định của pháp luật.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 750.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông Nguyễn Văn M (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Nghị định 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm tại điểm b khoản 1 Điều 27 Nghị định này.
Tình huống 45:
Ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị P là cha mẹ của cháu Trần Minh K, 10 tuổi, đang trong độ tuổi học tiểu học theo quy định. Do hoàn cảnh kinh tế gia đình gặp khó khăn và cho rằng việc học tập không mang lại lợi ích thiết thực, ông H nhiều lần yêu cầu cháu K nghỉ học để phụ giúp gia đình làm việc nhà và tham gia bán hàng cùng bố mẹ. Mặc dù giáo viên chủ nhiệm và nhà trường đã nhiều lần vận động, giải thích về quyền được học tập của trẻ em, ông H vẫn không cho cháu K đến trường trong thời gian dài. Ngoài việc không cho con đi học, ông H còn giữ sách vở, đồ dùng học tập của cháu và yêu cầu cháu không được tự ý đến trường khi chưa được sự đồng ý của gia đình. Qua xác minh của UBND xã X, cơ quan chức năng xác định ông Trần Văn H đã có hành vi cản trở việc đi học của trẻ em. Hành vi này chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định pháp luật, ông Trần Văn H bị xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại khoản 2 Điều 27 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về quyền được giáo dục của trẻ em quy định Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi cản trở việc đi học của trẻ em.”
Ông Trần Văn H đã thực hiện hành vi cản trở việc đi học của cháu K, không cho trẻ em thực hiện quyền học tập theo độ tuổi quy định, ngăn cản, hạn chế việc trẻ đến trường, tham gia hoạt động giáo dục. Hành vi của ông H đã xâm phạm quyền được giáo dục của trẻ em, ảnh hưởng đến quá trình phát triển về tri thức, kỹ năng và nhân cách của cháu K.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 1.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông Trần Văn H (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Nghị định 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm tại khoản 2 Điều 27 Nghị định này.
Tình huống 46:
Ông Phạm Văn T là chủ một cơ sở kinh doanh đồ điện dân dụng tại xã X. Do cần thêm người phụ giúp việc bán hàng, đóng gói và vận chuyển hàng hóa, ông T thường xuyên tiếp cận cháu Nguyễn Văn H, 13 tuổi, đang học lớp 7 tại trường Trung học cơ sở Y. Ông T nhiều lần dụ dỗ cháu H rằng nếu nghỉ học đi làm tại cửa hàng sẽ được trả tiền hằng tháng, có thể tự mua sắm đồ dùng cá nhân và không phải mất thời gian học tập. Sau đó, ông T tiếp tục gây áp lực, yêu cầu cháu H không đến trường và đến làm việc tại cơ sở của ông. Mặc dù cha mẹ cháu H đã nhiều lần yêu cầu ông T không được tiếp xúc, lôi kéo cháu bỏ học, nhưng ông T vẫn tiếp tục thuyết phục, tạo điều kiện để cháu H nghỉ học trong thời gian dài. Qua phản ánh của gia đình và nhà trường, UBND xã X tiến hành xác minh và kết luận ông Phạm Văn T đã có hành vi dụ dỗ, lôi kéo trẻ em bỏ học, nghỉ học. Hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định pháp luật, ông Phạm Văn T bị xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại khoản 3 Điều 27 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về quyền được giáo dục của trẻ em quy định: Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi dụ dỗ, lôi kéo, ép buộc trẻ em bỏ học, nghỉ học.
Ông Phạm Văn T đã thực hiện hành vi dụ dỗ, lôi kéo trẻ em bỏ học, nghỉ học, biết rõ cháu H đang trong độ tuổi đi học nhưng vẫn cố tình tác động để cháu nghỉ học. Dùng lợi ích vật chất, lời hứa trả tiền, tạo điều kiện làm việc để thu hút trẻ em rời bỏ môi trường giáo dục. Quyền được giáo dục là quyền cơ bản của trẻ em; mọi hành vi cản trở, làm mất cơ hội học tập của trẻ em đều bị nghiêm cấm.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 4.000.000 đồng đối với hànhvi vi phạm của ông Phạm Văn T (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Nghị định 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm tại khoản 3 Điều 27 Nghị định này.
Tình huống 47
Cháu Nguyễn Thùy D, 12 tuổi, là học sinh lớp 6 tại Trường Trung học cơ sở X. Cháu D có năng khiếu hội họa và được nhà trường lựa chọn tham gia Câu lạc bộ mỹ thuật dành cho thiếu nhi của địa phương. Hoạt động này được tổ chức ngoài giờ học nhằm giúp trẻ em phát triển năng khiếu, giao lưu, rèn luyện kỹ năng xã hội và thể hiện khả năng sáng tạo. Sau khi biết con được tham gia câu lạc bộ, ông Nguyễn Văn P (cha cháu D) không đồng ý và yêu cầu cháu nghỉ tham gia với lý do cho rằng các hoạt động xã hội không cần thiết, chỉ cần tập trung học văn hóa. Ông P nhiều lần cấm cháu D tham gia các buổi sinh hoạt của câu lạc bộ, không cho phép cháu giao lưu với các bạn cùng sở thích và tự ý hủy đăng ký tham gia hoạt động của cháu với nhà trường. Giáo viên chủ nhiệm đã trao đổi, giải thích cho ông P về lợi ích của hoạt động xã hội phù hợp với độ tuổi đối với sự phát triển toàn diện của trẻ em. Tuy nhiên, ông P vẫn tiếp tục ngăn cản, không cho cháu D tham gia. Qua xác minh, cơ quan chức năng xác định ông Nguyễn Văn P đã có hành vi cản trở trẻ em tham gia hoạt động xã hội phù hợp với độ tuổi, nhu cầu và năng lực của trẻ em, không thuộc trường hợp hạn chế nhằm bảo vệ lợi ích tốt nhất của trẻ. Căn cứ quy định pháp luật, ông Nguyễn Văn P bị xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại điểm a khoản 1 Điều 28 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về quyền của trẻ em được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội; quyền được bày tỏ ý kiến; quyền giữ gìn, phát huy bản sắc; quyền vui chơi, giải trí và cấm kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ em quy định: Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi cản trở trẻ em tham gia các hoạt động xã hội phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành, nhu cầu, năng lực của trẻ em, trừ trường hợp vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.”
Ông Nguyễn Văn P đã thực hiện hành vi cản trở trẻ em tham gia các hoạt động xã hội phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành, nhu cầu, năng lực của trẻ em, trừ trường hợp vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Ông P không đưa ra căn cứ về nguy cơ gây ảnh hưởng đến sức khỏe, sự an toàn hoặc lợi ích tốt nhất của trẻ mà chỉ dựa trên quan điểm cá nhân để ngăn cản.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 750.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông P (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Nghị định 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm tại điểm a khoản 1 Điều 28 Nghị định này.
Tình huống 48
UBND xã X triển khai kế hoạch xây dựng khu vui chơi, sinh hoạt cộng đồng dành cho trẻ em trên địa bàn. Theo quy định, trước khi quyết định phương án thực hiện, UBND xã tổ chức lấy ý kiến của trẻ em thông qua Diễn đàn trẻ em do Đoàn Thanh niên xã phối hợp với nhà trường tổ chức. Tại diễn đàn, đại diện trẻ em đã gửi văn bản kiến nghị đến UBND xã về việc cần bố trí khu vui chơi có thiết bị phù hợp cho trẻ em khuyết tật, bổ sung khu vực đọc sách và bảo đảm an toàn cho trẻ em khi tham gia các hoạt động ngoài trời. Tuy nhiên, sau khi nhận được kiến nghị, ông Nguyễn Văn K - cán bộ phụ trách văn hóa - xã hội của xã được giao tiếp nhận ý kiến của trẻ em đã không tiếp nhận đầy đủ hồ sơ kiến nghị, không tham mưu giải quyết, không chuyển cơ quan có thẩm quyền xem xét và cũng không có văn bản phản hồi về kết quả xử lý cho trẻ em và tổ chức đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em.
Sau nhiều lần liên hệ nhưng không nhận được phản hồi, tổ chức Đoàn Thanh niên xã đã báo cáo sự việc đến cơ quan cấp trên. Qua kiểm tra, cơ quan chức năng xác định ông Nguyễn Văn K đã không thực hiện trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết, phản hồi ý kiến, kiến nghị, nguyện vọng hợp pháp của trẻ em theo quy định. Hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định pháp luật, ông Nguyễn Văn K bị xử phạt vi phạm hành chính.  Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại điểm c khoản 2 Điều 28 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về quyền của trẻ em được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội; quyền được bày tỏ ý kiến; quyền giữ gìn, phát huy bản sắc; quyền vui chơi, giải trí và cấm kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ em quy định: Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không tiếp nhận, giải quyết, phản hồi ý kiến, kiến nghị, nguyện vọng của trẻ em, tổ chức đại diện tiếng nói nguyện vọng của trẻ em theo quy định.”
Ông Nguyễn Văn K đã thực hiện hành vi không tiếp nhận, giải quyết, phản hồi ý kiến, kiến nghị, nguyện vọng của trẻ em, tổ chức đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em theo quy định. Trẻ em đã thực hiện quyền bày tỏ ý kiến, nguyện vọng thông qua hình thức phù hợp. Ý kiến, kiến nghị của trẻ em liên quan đến quyền vui chơi, giải trí, tham gia hoạt động xã hội và môi trường sống an toàn.Việc tôn trọng, lắng nghe ý kiến của trẻ em là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nhằm bảo đảm trẻ em được tham gia vào các vấn đề liên quan đến mình.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 2.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông Nguyễn Văn K (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Nghị định 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm tại điểm c khoản 2 Điều 28 Nghị định này.
Tình huống 49:
Em Nguyễn Thị H, 11 tuổi, là học sinh lớp 5 tại Trường Tiểu học X. Gia đình em H thuộc hộ có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ làm lao động tự do. Em H là người dân tộc thiểu số, mới chuyển đến sinh sống tại địa phương và theo học tại trường. Trong lớp, cô giáo chủ nhiệm là bà Trần Thị M thường xuyên có thái độ không thiện cảm với em H. Khi tổ chức các hoạt động nhóm, cô M nhiều lần không cho em H tham gia cùng các bạn với lý do em "khác biệt", "không phù hợp với các bạn trong lớp". Cô M còn có những lời nhận xét mang tính miệt thị về hoàn cảnh gia đình và nguồn gốc dân tộc của em trước các học sinh khác. Một số học sinh trong lớp bắt chước thái độ của cô M, xa lánh, trêu chọc em H khiến em mặc cảm, không muốn tham gia các hoạt động tập thể của lớp và ảnh hưởng đến việc học tập. Sau khi nhận được phản ánh của gia đình, Ban Giám hiệu nhà trường tiến hành xác minh và xác định cô Trần Thị M đã có hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ em vì hoàn cảnh gia đình và dân tộc của trẻ. Hành vi này chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định pháp luật, cô Trần Thị M bị xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại khoản 3 Điều 28 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về quyền của trẻ em được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội; quyền được bày tỏ ý kiến; quyền giữ gìn, phát huy bản sắc; quyền vui chơi, giải trí và cấm kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ em quy định: Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ em vì đặc điểm cá nhân, hoàn cảnh gia đình, giới tính, dân tộc, quốc tịch, tín ngưỡng, tôn giáo của trẻ em.
Cô Trần Thị M đã thực hiện hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ em vì đặc điểm cá nhân, hoàn cảnh gia đình, giới tính, dân tộc, quốc tịch, tín ngưỡng, tôn giáo của trẻ em. Cô M có hành vi đánh giá, đối xử không bình đẳng với em H do hoàn cảnh gia đình và dân tộc của em. Việc loại trừ, hạn chế em H tham gia các hoạt động tập thể không dựa trên năng lực, hành vi hay lý do chính đáng vì lợi ích tốt nhất của trẻ.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:  
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 4.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của cô Trần Thị M (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, cô Trần Thị M phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a khoản 4 Điều 28 Nghị định này. Buộc công khai xin lỗi, khắc phục hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của trẻ em (nếu thuộc trường hợp áp dụng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền), chấm dứt hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử đối với trẻ em.
Tình huống 50:
Cháu Nguyễn Văn T, 13 tuổi, đang sinh sống cùng mẹ kế là bà Trần Thị H tại xã X. Trong thời gian dài, hàng xóm phát hiện cháu T thường xuyên phải làm việc nặng nhọc tại cơ sở kinh doanh của gia đình, có dấu hiệu bị đối xử không phù hợp với lứa tuổi; nhiều lần cháu có biểu hiện sợ hãi, bị quát mắng, không được đi học đầy đủ. Bà Nguyễn Thị M là hàng xóm của cháu T nhận thấy cháu có nguy cơ bị bóc lột sức lao động và bị bạo lực nên đã dự định thông báo sự việc cho Công an xã và UBND xã để được hỗ trợ, can thiệp bảo vệ trẻ em. Khi biết sự việc, bà Trần Thị H đã nhiều lần yêu cầu bà M không được báo cáo, đồng thời có lời nói đe dọa, gây áp lực để bà M không cung cấp thông tin cho cơ quan chức năng. Bà H cho rằng đây là chuyện gia đình và không muốn cơ quan nhà nước can thiệp. Sau khi nhận được phản ánh từ người dân khác, cơ quan chức năng tiến hành xác minh và xác định bà Trần Thị H đã có hành vi ngăn cản việc cung cấp thông tin về trẻ em có nguy cơ bị bóc lột, bị bạo lực cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền. Hành vi của bà H chưa gây hậu quả đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định pháp luật, bà Trần Thị H bị xử phạt vi phạm hành chính.  Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại điểm b khoản 1 Điều 29 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về hỗ trợ, can thiệp đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em bị xâm hại hoặc trẻ em có nguy cơ bị bóc lột, bạo lực, bỏ rơi và có nguy cơ bị xâm hại khác quy định: Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi ngăn cản việc cung cấp thông tin về trẻ em có nguy cơ bị bóc lột, bị bạo lực và có nguy cơ bị xâm hại khác cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.”
Bà Trần Thị H đã thực hiện hành vi ngăn cản việc cung cấp thông tin về trẻ em có nguy cơ bị bóc lột, bị bạo lực và có nguy cơ bị xâm hại khác cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền. Bà H đã sử dụng lời nói, hành động gây áp lực nhằm ngăn cản việc báo tin, làm hạn chế khả năng phát hiện và can thiệp kịp thời của cơ quan bảo vệ trẻ em. Hành vi này ảnh hưởng đến quyền được bảo vệ của trẻ em, làm tăng nguy cơ trẻ tiếp tục bị tổn hại.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 7.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm của bà Trần Thị H (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Nghị định 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm tại Điều 29 Nghị định này.
Tình huống 51:
Cháu Lê Thị A, 14 tuổi, là học sinh tại Trường Trung học cơ sở X. Trong thời gian học tập, giáo viên chủ nhiệm phát hiện cháu A có biểu hiện lo lắng, sợ hãi, kết quả học tập giảm sút và có dấu hiệu bị một người quen trong gia đình xâm hại. Sau khi được cháu A chia sẻ sự việc, cô Nguyễn Thị B là giáo viên chủ nhiệm đã tiếp nhận thông tin và báo cáo với lãnh đạo nhà trường để thực hiện việc thông báo, tố giác hành vi có dấu hiệu xâm hại trẻ em đến cơ quan có thẩm quyền theo quy định.
Tuy nhiên, trong quá trình xử lý vụ việc, cô B đã tự ý cung cấp thông tin về danh tính, hoàn cảnh gia đình, nội dung tố giác và tình trạng tâm lý của cháu A cho một số phụ huynh, học sinh khác trong trường với mục đích "cảnh báo". Thông tin bị tiết lộ khiến cháu A bị bạn bè bàn tán, mặc cảm, ảnh hưởng đến tâm lý và việc học tập. Qua kiểm tra, cơ quan chức năng xác định cô Nguyễn Thị B đã không thực hiện đúng trách nhiệm bảo mật thông tin liên quan đến trẻ em bị xâm hại và thông tin tố giác hành vi xâm hại trẻ em. Hành vi của cô B chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định pháp luật, cô Nguyễn Thị B bị xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại điểm đ khoản 2 Điều 29 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về hỗ trợ, can thiệp đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em bị xâm hại hoặc trẻ em có nguy cơ bị bóc lột, bạo lực, bỏ rơi và có nguy cơ bị xâm hại khác quy định: “Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi không bảo mật thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em.
Cô Nguyễn Thị B đã thực hiện hành vi không bảo mật thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cô B là người tiếp nhận thông tin liên quan đến trẻ em bị nghi ngờ xâm hại trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, tự ý tiết lộ thông tin cho người không có thẩm quyền tiếp cận thông tin.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 12.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính của cô Nguyễn Thị B (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Nghị định 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm tại Điều 29 Nghị định này.
Tình huống 52:
Em Nguyễn Văn K, 10 tuổi, là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đang sinh sống cùng cha và mẹ tại xã X. Do gia đình thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, em K nhiều lần bị cha đánh đập, bỏ mặc không được chăm sóc đầy đủ, có dấu hiệu bị bạo lực và có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển thể chất, tinh thần. Sau khi nhận được phản ánh của giáo viên chủ nhiệm về tình trạng của em K, cán bộ phụ trách công tác bảo vệ trẻ em của xã X đã tiến hành tiếp nhận thông tin, xác định em K thuộc trường hợp cần được hỗ trợ, can thiệp theo quy định. Tuy nhiên, mặc dù đã biết rõ tình trạng của em K, cán bộ được giao nhiệm vụ là bà Nguyễn Thi M đã không thực hiện đầy đủ các biện pháp cần thiết như: không lập hồ sơ hỗ trợ, không phối hợp với cơ quan, tổ chức liên quan để đánh giá nguy cơ, không tham mưu thực hiện biện pháp bảo vệ khẩn cấp và không theo dõi quá trình hỗ trợ trẻ em. Việc chậm trễ can thiệp khiến em K tiếp tục bị bạo lực trong thời gian dài, ảnh hưởng đến sức khỏe và tâm lý. Qua kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền xác định người có trách nhiệm đã không thực hiện đầy đủ, kịp thời việc hỗ trợ, can thiệp đối với trẻ em bị xâm hại, có nguy cơ bị bạo lực và thuộc nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định pháp luật, người vi phạm bị xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Điểm a khoản 3 Điều 29 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về hỗ trợ, can thiệp đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em bị xâm hại hoặc trẻ em có nguy cơ bị bóc lột, bạo lực, bỏ rơi và có nguy cơ bị xâm hại khác quy định: “Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đầy đủ, kịp thời việc hỗ trợ, can thiệp đối với trường hợp trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.”
Bà Nguyễn Thị M đã thực hiện hành vi không thực hiện đầy đủ, kịp thời việc hỗ trợ, can thiệp đối với trường hợp trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Đã tiếp nhận thông tin về trẻ em có dấu hiệu bị bạo lực, xâm hại và thuộc trường hợp cần được hỗ trợ, can thiệp nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các nhiệm vụ bảo vệ trẻ em theo quy định. Sự thiếu trách nhiệm làm ảnh hưởng đến quyền được bảo vệ, chăm sóc và phát triển toàn diện của trẻ em.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 25.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của bà M (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
 - Nghị định 98/2026/NĐ-CP không quy định hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm tại điểm a khoản 3 Điều 29 Nghị định này.
Tình huống 53:
Ông Nguyễn Văn H là chủ cửa hàng kinh doanh đồ chơi trẻ em tại xã X. Trong quá trình kinh doanh, ông H nhập một số loại đồ chơi không rõ nguồn gốc, không có nhãn phụ bằng tiếng Việt, không có thông tin về tiêu chuẩn chất lượng và không được kiểm định an toàn theo quy định. Mặc dù biết các sản phẩm này có nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ em, ông H vẫn bày bán và giới thiệu cho khách hàng là trẻ em đến mua. Một số trẻ sau khi sử dụng đồ chơi đã bị trầy xước, kích ứng da do sản phẩm có bộ phận sắc nhọn và chất liệu không bảo đảm an toàn. Qua phản ánh của phụ huynh, cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra cửa hàng của ông H và phát hiện nhiều sản phẩm đồ chơi trẻ em không bảo đảm điều kiện an toàn, có khả năng gây tổn hại đến sức khỏe và sự an toàn của trẻ em. Kết quả xác minh xác định ông Nguyễn Văn H đã có hành vi cung cấp sản phẩm không an toàn, gây tổn hại cho trẻ em. Hành vi này chưa gây hậu quả nghiêm trọng đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định pháp luật, ông Nguyễn Văn H bị xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại điểm a khoản 1 Điều 30 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về cấm bán cho trẻ em hoặc cho trẻ em sử dụng chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em; vi phạm quy định về cung cấp sản phẩm, dịch vụ an toàn, thân thiện với trẻ em mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự quy định: “Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp sản phẩm, dịch vụ không an toàn, gây tổn hại cho trẻ em;
Ông Nguyễn Văn H đã thực hiện hành vi cung cấp sản phẩm không an toàn, gây tổn hại cho trẻ em, người kinh doanh không kiểm tra nguồn gốc, chất lượng sản phẩm trước khi đưa ra thị trường.Việc cung cấp sản phẩm không bảo đảm an toàn có nguy cơ gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng và sự phát triển bình thường của trẻ em. Hành vi đã xâm phạm quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe và bảo đảm an toàn của trẻ em.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 35.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính của Nguyễn Văn H (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Hình thức phạt bổ sung: tịch thu tang vật vi phạm hàn chính được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 30 Nghị định 98/2026/NĐ-CP;
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, ông Nguyễn Văn H phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 30 Nghị định này:
+ Buộc tiêu hủy toàn bộ hàng hoá, vật phẩm loại đồ chơi không rõ nguồn gốc, không có nhãn phụ bằng tiếng Việt, không có thông tin về tiêu chuẩn chất lượng và không được kiểm định an toàn theo quy định;
+ Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em mà gây ra thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe cho trẻ em nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
+ Buộc nộp lại số tiền bằng với giá trị tang vật vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm.
Tình huống 54:
Ông Trần Văn M là chủ một quán kinh doanh đồ ăn, nước giải khát tại xã X. Trong quá trình kinh doanh, ông M thường xuyên cho một số trẻ em trong khu vực đến quán sử dụng các loại nước uống có chứa chất kích thích không phù hợp với trẻ em và một số loại thực phẩm không rõ nguồn gốc, không bảo đảm điều kiện an toàn thực phẩm. Mặc dù đã được người dân xung quanh nhắc nhở về việc các sản phẩm này không phù hợp với trẻ em, ông M vẫn tiếp tục cho các cháu nhỏ sử dụng với lý do "chỉ dùng một lượng nhỏ sẽ không ảnh hưởng". Một số trẻ sau khi sử dụng đã có biểu hiện đau bụng, buồn nôn và phải được gia đình đưa đi kiểm tra sức khỏe. Qua kiểm tra, cơ quan chức năng phát hiện tại quán của ông M có nhiều loại thực phẩm, đồ uống không có nguồn gốc rõ ràng, không bảo đảm điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm và có chứa thành phần không phù hợp với trẻ em. Ông M thừa nhận đã trực tiếp cho trẻ em sử dụng các sản phẩm này. Cơ quan chức năng kết luận ông Trần Văn M đã thực hiện hành vi cho trẻ em sử dụng chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em. Hành vi chưa gây hậu quả đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định pháp luật, ông Trần Văn M bị xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại điểm c khoản 1 Điều 30 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về cấm bán cho trẻ em hoặc cho trẻ em sử dụng chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em; vi phạm quy định về cung cấp sản phẩm, dịch vụ an toàn, thân thiện với trẻ em mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự quy định “Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi cho trẻ em sử dụng chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em.
Ông Trần Văn M đã thực hiện hành vi cho trẻ em sử dụng chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em. Ông M là người trực tiếp cung cấp, cho phép và tạo điều kiện để trẻ em sử dụng các sản phẩm có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. Các sản phẩm được sử dụng là chất kích thích, thực phẩm không bảo đảm an toàn hoặc có hại đối với trẻ em. Hành vi có nguy cơ gây ảnh hưởng đến sức khỏe, sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ em. Việc cho trẻ em sử dụng các sản phẩm không an toàn, có hại là hành vi bị nghiêm cấm nhằm bảo vệ quyền được chăm sóc sức khỏe và phát triển toàn diện của trẻ em.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 35.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của ông Trần Văn M (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, ông Trần Văn M phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều này:
+ Buộc tiêu hủy toàn bộ các loại nước uống có chứa chất kích thích không phù hợp với trẻ em và một số loại thực phẩm không rõ nguồn gốc, không bảo đảm điều kiện an toàn thực phẩm;
+ Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em mà gây ra thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe cho trẻ em nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
+ Buộc nộp lại số tiền bằng với giá trị tang vật vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm.
Tình huống 55:
Công ty TNHH Văn hóa P chuyên sản xuất và phân phối đồ chơi, sách truyện tranh, sản phẩm giải trí dành cho nhiều nhóm tuổi. Trong quá trình kinh doanh, công ty phát hành một bộ truyện tranh và một số trò chơi điện tử có chứa nội dung bạo lực, hình ảnh gây sợ hãi, không phù hợp với trẻ em dưới 12 tuổi. Theo quy định, các sản phẩm này phải có ghi chú, cảnh báo rõ ràng về độ tuổi sử dụng hoặc thông báo nội dung không phù hợp với trẻ em. Tuy nhiên, Công ty P không thực hiện việc ghi chú trên bao bì sản phẩm, không có hướng dẫn hạn chế đối tượng sử dụng và không đưa ra cảnh báo đối với nội dung số được cung cấp trên nền tảng trực tuyến. Một số phụ huynh sau khi cho trẻ sử dụng sản phẩm đã phản ánh việc trẻ em tiếp cận các nội dung không phù hợp, gây ảnh hưởng đến tâm lý và hành vi của trẻ. Qua kiểm tra, cơ quan chức năng xác định Công ty TNHH Văn hóa P đã cung cấp xuất bản phẩm, đồ chơi và sản phẩm nội dung số có nội dung không phù hợp với trẻ em nhưng không thực hiện việc cảnh báo, ghi chú theo quy định. Hành vi của công ty chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định pháp luật, Công ty TNHH Văn hóa P bị xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại điểm b khoản 1 Điều 31 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về cung cấp các sản phẩm, dịch vụ văn hóa, thông tin, truyền thông có nội dung ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của trẻ em quy định “Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không ghi chú về việc trẻ em không được sử dụng trên xuất bản phẩm, ấn phẩm, đồ chơi nếu xuất bản phẩm, ấn phẩm, đồ chơi có nội dung không phù hợp với trẻ em; không cảnh báo về việc có nội dung không phù hợp với trẻ em trong các sản phẩm nội dung số trên không gian mạng.”
Công ty TNHH Văn hóa P đã thực hiện hành vi không ghi chú về việc trẻ em không được sử dụng trên xuất bản phẩm, ấn phẩm, đồ chơi có nội dung không phù hợp với trẻ em; không cảnh báo về việc có nội dung không phù hợp với trẻ em trong các sản phẩm nội dung số trên không gian mạng. Cung cấp các sản phẩm văn hóa, thông tin, truyền thông có nội dung có khả năng ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của trẻ em, có nội dung không phù hợp với trẻ em nhưng không có cảnh báo, phân loại độ tuổi hoặc hướng dẫn hạn chế sử dụng.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Công ty TNHH Văn hóa P (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 98/2026/NĐ-CP trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Hình thức xử phạt bổ sung: được quy định tại khoản 4 Điều 31 Nghị định 98/2026/NĐ-CP. Tịch thu toàn bộ tang vật của Công ty P đã phát hành là bộ truyện tranh và một số trò chơi điện tử có chứa nội dung bạo lực, hình ảnh gây sợ hãi, không phù hợp với trẻ em dưới 12 tuổi không có ghi chú, cảnh báo rõ ràng về độ tuổi sử dụng hoặc thông báo nội dung không phù hợp với trẻ em.
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, Công ty TNHH Văn hóa B phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 5 Điều này:
+ Buộc gỡ bỏ tin, bài trên báo điện tử, tạp chí điện tử, báo nói, báo hình, xuất bản phẩm điện tử đối với hành vi vi phạm của mình;
+ Buộc thu hồi và tiêu hủy sản phẩm, ấn phẩm, đồ chơi, báo in và xuất bản phẩm;
+ Buộc nộp lại số tiền bằng với giá trị tang vật vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật.
Tình huống 56:
Công ty truyền thông đa phương tiện X là cơ quan truyền thông thực hiện sản xuất và phát sóng nhiều chương trình giải trí, phim truyện, chương trình trực tuyến phục vụ nhiều nhóm đối tượng khán giả. Trong quá trình phát sóng một số chương trình phim truyện có nội dung chứa cảnh bạo lực, hình ảnh gây sợ hãi và các tình tiết không phù hợp với trẻ em dưới 16 tuổi, Công ty truyền thông đa phương tiện X  không thực hiện việc cảnh báo về độ tuổi hoặc nội dung không phù hợp trước khi phát sóng. Một số chương trình khác có gắn nhãn cảnh báo nhưng thực hiện không đúng quy định, thời lượng cảnh báo quá ngắn, đặt ở vị trí khó nhận biết khiến phụ huynh và trẻ em không kịp thời nhận biết để lựa chọn nội dung phù hợp. Sau khi nhận được phản ánh của phụ huynh, cơ quan quản lý nhà nước tiến hành kiểm tra hoạt động phát sóng của Công ty truyền thông đa phương tiện X và xác định nhiều chương trình có nội dung ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của trẻ em nhưng không được cảnh báo đầy đủ theo quy định. Kết quả xác minh cho thấy Công ty truyền thông đa phương tiện X đã có hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định về cảnh báo nội dung không phù hợp với trẻ em trên chương trình truyền hình. Hành vi này chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định pháp luật, Công ty truyền thông đa phương tiện X bị xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Khoản 3 Điều 31 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về cung cấp các sản phẩm, dịch vụ văn hóa, thông tin, truyền thông có nội dung ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của trẻ em quy định “Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định về cảnh báo nội dung không phù hợp với trẻ em trên các chương trình của kênh phát thanh, kênh truyền hình, báo chí và xuất bản phẩm.
Công ty truyền thông đa phương tiện X đã thực hiện hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định về cảnh báo nội dung không phù hợp với trẻ em trên các chương trình của kênh phát thanh, kênh truyền hình, báo chí và xuất bản phẩm. Chương trình được cung cấp có nội dung có khả năng tác động tiêu cực đến tâm lý, nhận thức hoặc sự phát triển lành mạnh của trẻ em. Đơn vị cung cấp chương trình không thực hiện đầy đủ trách nhiệm cảnh báo nội dung không phù hợp với trẻ em. Hành vi vi phạm ảnh hưởng đến quyền được bảo vệ trong môi trường thông tin, truyền thông của trẻ em.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 40.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của Công ty truyền thông đa phương tiện X (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 98/2026/NĐ-CP trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Hình thức phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 31 Nghị định 98/2026/NĐ-CP. Tịch thu toàn bộ chương trình Công ty truyền thông đa phương tiện X đã sản xuất và phát sóng có nội dung chứa cảnh bạo lực, hình ảnh gây sợ hãi và các tình tiết không phù hợp với trẻ em dưới 16 tuổi.
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, Đài Truyền hình X phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm a, d khoản 5 Điều 31 Nghị định này.
+ Buộc Công ty truyền thông đa phương tiện X gỡ bỏ tin toàn bộ chương trình đã sản xuất và phát sóng có nội dung chứa cảnh bạo lực, hình ảnh gây sợ hãi và các tình tiết không phù hợp với trẻ em dưới 16 tuổi;
+ Buộc nộp lại số tiền bằng với giá trị tang vật vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật.
Tình huống 57:
Bà Nguyễn Thị H là chủ một tài khoản mạng xã hội có nhiều người theo dõi. Trong quá trình sử dụng mạng xã hội để đăng tải thông tin, bà H đã đăng bài viết về một vụ việc xảy ra tại địa phương liên quan đến cháu N (10 tuổi). Để thu hút sự quan tâm của cộng đồng mạng, bà H đã đăng tải hình ảnh rõ mặt của cháu N, kèm theo họ tên, tuổi, tên trường đang học, địa chỉ nơi ở và thông tin về hoàn cảnh gia đình của cháu. Bài viết được chia sẻ công khai trên mạng xã hội, thu hút nhiều lượt bình luận và chia sẻ. Trước khi đăng tải, bà H không xin ý kiến của cha mẹ cháu N, người giám hộ hoặc bản thân cháu N về việc sử dụng các thông tin cá nhân nêu trên. Việc công khai thông tin khiến cháu N bị nhiều người nhận biết, bàn luận về đời sống cá nhân, ảnh hưởng đến tâm lý và sinh hoạt của cháu. Sau khi nhận được phản ánh của gia đình cháu N, cơ quan chức năng tiến hành xác minh và kết luận bà Nguyễn Thị H đã có hành vi công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em khi chưa được sự đồng ý theo quy định pháp luật. Hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định pháp luật, bà Nguyễn Thị H bị xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Khoản 1 Điều 32 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về cấm công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em quy định “Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi công bố, tiết lộ một trong các thông tin sau đây mà không được sự đồng ý của cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em, người giám hộ của trẻ em và trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên, gồm: tên, tuổi; đặc điểm nhận dạng cá nhân; thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong bệnh án; hình ảnh cá nhân; thông tin về các thành viên trong gia đình, người chăm sóc trẻ em; tài sản cá nhân; số điện thoại; địa chỉ thư tín cá nhân; địa chỉ, thông tin về nơi ở, quê quán; địa chỉ, thông tin về trường, lớp, kết quả học tập và các mối quan hệ bạn bè của trẻ em; thông tin về dịch vụ cung cấp cho cá nhân trẻ em.”
Bà Nguyễn Thị H đã thực hiện hành vi công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em mà không được sự đồng ý của cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em, người giám hộ của trẻ em và trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên cụ thể: Họ tên, tuổi của trẻ em, hình ảnh cá nhân của trẻ em, thông tin về nơi ở, thông tin về trường học, thông tin về hoàn cảnh gia đình và các mối quan hệ cá nhân của trẻ em.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 25.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của bà H (mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, bà Nguyễn Thị H phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị định này:
+ Buộc bà H phải xin lỗi khai có yêu cầu;
+ Buộc gỡ bỏ, xóa bỏ thông tin, hình ảnh cá nhân của cháu N đã công bố trái quy định.
Tình huống 58:
Công ty TNHH Công nghệ A được cấp phép cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng loại G1 (trò chơi có sự tương tác giữa nhiều người chơi với hệ thống máy chủ của doanh nghiệp). Trong quá trình vận hành trò chơi, Công ty A không xây dựng, tích hợp công cụ kiểm soát thời gian chơi dành cho trẻ em; không có chức năng cảnh báo thời gian chơi quá dài; không thiết lập giải pháp giới hạn thời lượng chơi đối với tài khoản do người chơi là trẻ em sử dụng. Qua kiểm tra, cơ quan quản lý nhà nước phát hiện nhiều tài khoản được xác định là của người chơi dưới 18 tuổi có thể truy cập trò chơi liên tục trong nhiều giờ mỗi ngày mà không bị giới hạn hoặc nhắc nhở. Một số phụ huynh phản ánh việc con em mình dành quá nhiều thời gian chơi trò chơi điện tử, ảnh hưởng đến học tập, sinh hoạt và sức khỏe. Công ty A giải trình rằng việc kiểm soát thời gian chơi là trách nhiệm của gia đình người chơi, còn doanh nghiệp chỉ cung cấp nền tảng trò chơi. Tuy nhiên, cơ quan chức năng xác định doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng có trách nhiệm áp dụng các biện pháp bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng theo quy định pháp luật.
Kết quả kiểm tra xác định Công ty TNHH Công nghệ A đã không thực hiện biện pháp kiểm soát, hạn chế thời gian chơi nhằm bảo vệ trẻ em khỏi tình trạng lạm dụng, nghiện trò chơi điện tử. Hành vi thuộc trường hợp bị xử lý vi phạm hành chính.  Hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Tại khoản 2 Điều 37 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP về trách nhiệm bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng quy định “Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng khi không có công cụ kiểm soát thời gian, bảo vệ trẻ em khỏi tình trạng lạm dụng, nghiện trò chơi điện tử. Trường hợp doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng có hành vi không áp dụng biện pháp, giải pháp hạn chế giờ chơi của trò chơi điện tử G1 đối với trẻ em thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử.
Công ty TNHH Công nghệ A đã thực hiện hành vi không có công cụ kiểm soát thời gian, bảo vệ trẻ em khỏi tình trạng lạm dụng, nghiện trò chơi điện tử; không áp dụng biện pháp, giải pháp hạn chế giờ chơi của trò chơi điện tử G1 đối với trẻ em. Công ty A cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng loại G1 nhưng không xây dựng hoặc triển khai công cụ kiểm soát thời gian chơi dành cho trẻ em, không áp dụng giải pháp hạn chế giờ chơi, cảnh báo hoặc kiểm soát việc sử dụng trò chơi của người chơi là trẻ em.
Do đó, hành vi trên có thể bị xử lý như sau:  
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 25.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính của Công ty TNHH Công nghệ A (mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 98/2026/NĐ-CP trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ).
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài hình thức xử phạt chính, Công ty TNHH Công nghệ A phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 3 Điều này:
+ Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm mà có;
+ Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em đối với hành vi vi phạm nếu gây ra thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe cho trẻ em nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tình huống 59: Công ty TNHH Khảo sát và Đo đạc M vừa hoàn thành một dự án lập bản đồ quy hoạch sử dụng đất bằng nguồn ngân sách nhà nước. Mặc dù đã quá thời hạn quy định và cơ quan quản lý chuyên ngành đã nhiều lần gửi văn bản đôn đốc, Công ty M vẫn không thực hiện việc giao nộp thông tin, dữ liệu và sản phẩm đo đạc bản đồ để lưu trữ theo quy định. Giám đốc Công ty M cho rằng dự án đã nghiệm thu và thanh toán xong nên công ty không còn trách nhiệm phải nộp lại sản phẩm để lưu trữ.
Hỏi: Hành vi của Công ty TNHH Khảo sát và Đo đạc M có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Mức phạt và biện pháp khắc phục hậu quả được quy định như thế nào? Thẩm quyền xử phạt thuộc về ai?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 10 Nghị định 18/2020/NĐ-CP quy định: "Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi không giao nộp thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ để lưu trữ theo quy định của pháp luật về đo đạc và bản đồ." Đồng thời, khoản 2 Điều 4 Nghị định 18/2020/NĐ-CP quy định mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Về biện pháp khắc phục hậu quả, căn cứ điểm b khoản 5 Điều 10 Nghị định 18/2020/NĐ-CP quy định: "Buộc thực hiện việc giao nộp thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ theo quy định đối với hành vi quy định tại khoản 2 Điều này".
Về thẩm quyền xử phạt, căn cứ khoản 3 Điều 14a Nghị định 18/2020/NĐ-CP (được bổ sung tại Điều 8 Nghị định 228/2026/NĐ-CP), Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường có thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân đến 40.000.000 đồng (tương ứng phạt tiền đến 80.000.000 đồng đối với tổ chức).
Trong tình huống này, Công ty M là tổ chức và có hành vi không giao nộp thông tin, dữ liệu đo đạc bản đồ để lưu trữ theo quy định. Do đó, Công ty M sẽ bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng, đồng thời bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc phải thực hiện giao nộp thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ theo quy định. Quyết định xử phạt này thuộc thẩm quyền của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường.
Tình huống 60: Ông A xây dựng trang trại chăn nuôi lớn ở vùng nông thôn. Khi Đội khảo sát của Sở Nông nghiệp và Môi trường (có đầy đủ giấy tờ, nhiệm vụ hợp pháp) tiến hành đo đạc bản đồ địa chính phục vụ công tác quản lý đất đai địa phương, ông A đã có hành vi cản trở. Ông A đã cho khóa cổng lối đi công cộng dẫn vào khu vực đo đạc, thả chó săn và dùng lời lẽ đe dọa, xua đuổi các thành viên trong đội khảo sát, khiến hoạt động đo đạc bản đồ hợp pháp bị đình trệ hoàn toàn.
Hỏi: Hành vi cản trở của ông A có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Mức xử phạt được quy định như thế nào?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 12 Nghị định 18/2020/NĐ-CP quy định: "Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi cản trở hoạt động đo đạc và bản đồ hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân".
Trong tình huống này, ông A là cá nhân có hành vi cản trở hoạt động đo đạc và bản đồ hợp pháp của cơ quan nhà nước. Do đó, ông A có thể sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của mình.
Tình huống 61: Công ty Cổ phần Đo đạc Địa chính X có giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Trong quá trình hoạt động, vào tháng 3 năm 2026, Công ty X thay đổi Kỹ sư phụ trách kỹ thuật (người phụ trách kỹ thuật chính của công ty nghỉ việc và được thay thế bằng một kỹ sư khác). Đến tháng 9 năm 2026, khi đoàn kiểm tra của Sở Nông nghiệp và Môi trường tiến hành kiểm tra đột xuất, Công ty X vẫn chưa thực hiện báo cáo cơ quan cấp phép về việc thay đổi nhân sự phụ trách kỹ thuật này.
Hỏi: Hành vi của Công ty Cổ phần Đo đạc Địa chính X có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Mức xử phạt được quy định như thế nào?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 9 Nghị định 18/2020/NĐ-CP quy định: "Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi không báo cáo cơ quan cấp phép hoạt động đo đạc và bản đồ khi có sự thay đổi người phụ trách kỹ thuật hoặc khi có sự thay đổi địa chỉ trụ sở chính".
Đồng thời, căn cứ khoản 2 Điều 4 Nghị định 18/2020/NĐ-CP quy định mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cùng hành vi vi phạm hành chính của cá nhân.
Trong tình huống này, Công ty X là tổ chức và có hành vi không báo cáo cơ quan cấp phép hoạt động đo đạc và bản đồ khi có sự thay đổi người phụ trách kỹ thuật. Do đó, Công ty X có thể sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của mình.
Tình huống 62: Để thực hiện gói thầu lập bản đồ hiện trạng rừng chuyên ngành cho một vườn quốc gia, Viện Quy hoạch và Thiết kế Lâm nghiệp Y (là tổ chức) đã sử dụng một bộ dữ liệu, bản đồ nền lâm nghiệp được chia sẻ không chính thức trên các hội nhóm mạng xã hội, hoàn toàn không có thông tin về cơ quan phê duyệt, tính pháp lý hay nguồn gốc sản xuất. Bộ dữ liệu này sau đó bị cơ quan quản lý phát hiện là chứa nhiều thông tin sai lệch về hiện trạng thực tế.
Hỏi: Việc sử dụng thông tin, dữ liệu nêu trên của Viện Quy hoạch và Thiết kế Lâm nghiệp Y có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Mức xử phạt đối với Viện Y được xác định như thế nào?
Trả lời:
Điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định 18/2020/NĐ-CP quy định: "Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi: Sử dụng thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ không có nguồn gốc rõ ràng trong lập, thực hiện đề án, dự án, thiết kế kỹ thuật - dự toán, nhiệm vụ đo đạc và bản đồ"
Đồng thời, căn cứ khoản 2 Điều 4 Nghị định 18/2020/NĐ-CP quy định mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cùng hành vi vi phạm hành chính của cá nhân.
Trong tình huống này, Viện Y là tổ chức và có hành vi sử dụng dữ liệu đo đạc, bản đồ không có nguồn gốc rõ ràng trong lập, thực hiện đề án, thiết kế kỹ thuật. Do đó, Viện Y có thể sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của mình.
Tình huống 63: Bà B có một thửa đất trồng cây lâu năm nằm giáp ranh với đất công cộng, trên ranh giới đó có đặt một mốc tọa độ quốc gia (mốc đo đạc). Khi một công ty khảo sát được Nhà nước giao nhiệm vụ đo đạc địa chính mang thiết bị đến sử dụng mốc này phục vụ việc đo đạc lập bản đồ chung của khu vực, bà B đã lớn tiếng chửi bới, giăng lưới gai cản trở và tuyệt đối không cho đội khảo sát tiếp cận, sử dụng mốc đo đạc. Bà B cho rằng mốc nằm giáp đất nhà bà nên bà có quyền cấm người lạ sử dụng.
Hỏi: Hành vi cản trở của bà B có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Mức xử phạt được quy định như thế nào?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 12 Nghị định 18/2020/NĐ-CP quy định: "Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi cản trở tổ chức, cá nhân sử dụng mốc đo đạc khi thực hiện hoạt động đo đạc hợp pháp".
Trong tình huống này, bà B là cá nhân và có hành vi cản trở tổ chức sử dụng mốc đo đạc khi thực hiện hoạt động đo đạc hợp pháp. Do đó, bà B có thể sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của mình.
Tình huống 64: Giám đốc Sở Xây dựng tiến hành kiểm tra một công trình và ra quyết định xử phạt một nhà thầu thi công vì vi phạm quy định về bảo vệ công trình hạ tầng đo đạc theo Nghị định về xử phạt trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ.
Hỏi: Quyết định xử phạt của Giám đốc Sở Xây dựng có đúng thẩm quyền theo quy định pháp luật hiện hành không?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 17 Nghị định 228/2026/NĐ-CP quy định: "Bãi bỏ Điều 15 và Điều 22." (Điều 22 của Nghị định 18/2020/NĐ-CP trước đây quy định thẩm quyền xử phạt của thanh tra chuyên ngành xây dựng, giao thông, công thương, nông nghiệp và phát triển nông thôn). Đồng thời, theo Điều 14a mới được bổ sung tại Điều 8 Nghị định 228/2026/NĐ-CP, Giám đốc Sở Xây dựng không được phân cấp thẩm quyền xử phạt đối với hành vi thuộc quy định về bảo vệ công trình hạ tầng đo đạc địa phương (vốn thuộc thẩm quyền của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp tỉnh).
Do đó, Giám đốc Sở Xây dựng không còn thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ theo Nghị định này nữa.
Tình huống 65: Công ty Cổ phần Tư vấn Khảo sát Thiết kế Địa chính Z hoạt động kinh doanh dịch vụ đo đạc và bản đồ bình thường tại địa phương. Theo quy định pháp luật về đo đạc và bản đồ, doanh nghiệp phải nộp báo cáo định kỳ hàng năm về hoạt động đo đạc bản đồ cho cơ quan quản lý chuyên ngành ở địa phương. Tuy nhiên, trong năm vừa qua, Công ty Z đã cố ý bỏ qua không thực hiện việc báo cáo định kỳ này.
Hỏi: Hành vi của Công ty Cổ phần Tư vấn Khảo sát Thiết kế Địa chính Z có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Mức xử phạt đối với Công ty Z được xác định như thế nào?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 9 Nghị định 18/2020/NĐ-CP quy định: "Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện báo cáo về hoạt động đo đạc và bản đồ theo quy định của pháp luật về đo đạc và bản đồ".
Đồng thời, căn cứ khoản 2 Điều 4 Nghị định 18/2020/NĐ-CP quy định mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cùng hành vi vi phạm hành chính của cá nhân.
Trong tình huống này, Công ty Z là tổ chức và có hành vi không thực hiện báo cáo về hoạt động đo đạc bản đồ theo quy định. Do đó, Công ty Z có thể sẽ bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của mình.








 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây