40 tình huống tuyên truyền pháp luật

Thứ năm - 06/08/2026 06:24 23 0
Tình huống 1: Không sử dụng thiết bị an toàn phù hợp khi chở trẻ em trên ô tô
Anh Nam điều khiển xe ô tô của gia đình chở con trai 6 tuổi, cao 1,2 mét đi học. Cháu bé ngồi ở hàng ghế sau và chỉ thắt dây đai an toàn dành cho người lớn, không sử dụng ghế hoặc thiết bị an toàn phù hợp với trẻ em. Anh Nam cho rằng việc để cháu ngồi ở hàng ghế sau và thắt dây an toàn là đã bảo đảm an toàn nên không trang bị thêm ghế dành cho trẻ em. Trong quá trình tuần tra, kiểm soát, lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện hành vi trên và tiến hành lập biên bản xử lý theo quy định.
Hỏi: Trong trường hợp này, anh Nam sẽ bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Khoản 1a  Điều 6 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung bởi khoản 1 Điều 2 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“Phạt cảnh cáo đối với người điều khiển xe ô tô chở trẻ em dưới 10 tuổi và có chiều cao dưới 1,35 m mà không sử dụng thiết bị an toàn phù hợp cho trẻ em (trừ xe kinh doanh vận tải hành khách).”
Trong tình huống này, con của anh Nam mới 6 tuổi và cao 1,2 mét, thuộc trường hợp bắt buộc phải sử dụng thiết bị an toàn phù hợp khi được chở trên xe ô tô. Việc cháu chỉ sử dụng dây đai an toàn dành cho người lớn không được coi là thay thế thiết bị an toàn phù hợp theo quy định.
Do đó, Anh Nam sẽ bị áp dụng hình thức cảnh cáo theo quy định của pháp luật. Đồng thời, khi chở trẻ em dưới 10 tuổi và có chiều cao dưới 1,35m trên xe ô tô, người điều khiển phương tiện phải trang bị và sử dụng đúng loại ghế hoặc thiết bị an toàn phù hợp với độ tuổi, chiều cao và thể trạng của trẻ để bảo đảm an toàn.
Tình huống 2: Cho trẻ em ngồi cùng hàng ghế với người lái xe
Chị Hương điều khiển xe ô tô 5 chỗ đưa con trai 8 tuổi, cao 1,28 mét đi học. Do quãng đường ngắn và nghĩ rằng cháu đã thắt dây đai an toàn nên chị bố trí cho cháu ngồi ở ghế phía trước cùng hàng với lái xe. Khi kiểm tra tại chốt kiểm soát giao thông, lực lượng cảnh sát giao thông phát hiện và lập biên bản.
Hỏi: Trong trường hợp này, chị Hương sẽ bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Điểm m khoản 3 Điều 6 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 2 Điều 2 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP) quy định:
“3. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
m. Chở trẻ em dưới 10 tuổi và có chiều cao dưới 1,35 mét ngồi cùng hàng ghế với người lái xe (trừ xe ô tô chỉ có một hàng ghế);”
Trong tình huống này, con của chị Hương 8 tuổi và cao 1,28 mét, thuộc trường hợp không được bố trí ngồi cùng hàng ghế với người lái xe. Việc cháu có thắt dây đai an toàn không làm thay đổi quy định về vị trí ngồi đối với trẻ em dưới 10 tuổi và có chiều cao dưới 1,35 mét.
Như vậy, Chị Hương đã thực hiện hành vi vi phạm quy định về chở trẻ em trên xe ô tô cho ngồi cùng hành ghế với người lái xe và sẽ bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng theo quy định tại điểm m khoản 3 Điều 6 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 238/2026/NĐ-CP. Đồng thời, khi chở trẻ em dưới 10 tuổi và có chiều cao dưới 1,35 mét, người điều khiển xe cần bố trí trẻ ngồi đúng vị trí theo quy định và sử dụng thiết bị an toàn phù hợp để bảo đảm an toàn khi tham gia giao thông.
Tình huống 3: Tự ý lắp khung biển số có tấm che tự động
Anh Mạnh điều khiển xe ô tô cá nhân tham gia giao thông và lắp thêm một thiết bị điều khiển từ xa có thể đóng, mở tấm che phía trước biển số xe. Khi cần, anh Mạnh sử dụng thiết bị này để che một phần biển số nhằm tránh bị hệ thống camera giám sát giao thông ghi nhận. Trong quá trình làm nhiệm vụ, lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện và yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra.
Hỏi: Hành vi của anh Mạnh sẽ bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Điểm b khoản 8 Điều 13 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Điều 3 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“8. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
"b) Điều khiển xe không gắn đủ biển số hoặc gắn biển số không đúng vị trí, không đúng quy cách theo quy định; gắn biển số không rõ chữ, số hoặc sơn, dán lên chữ, số của biển số xe; gắn biển số bị bẻ cong, che lấp, làm thay đổi chữ, số, màu sắc (của chữ, số, nền biển số xe), hình dạng, kích thước của biển số xe; sử dụng chất liệu, vật liệu, thiết bị làm thay đổi khả năng nhận diện thông tin biển số xe của phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc).".
Trong tình huống này, mặc dù xe vẫn gắn biển số do cơ quan có thẩm quyền cấp nhưng việc lắp đặt và sử dụng thiết bị che biển số đã làm thay đổi khả năng nhận diện thông tin biển số của hệ thống giám sát, thuộc hành vi vi phạm quy định của pháp luật.
Như vậy, anh Mạnh bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng, đồng thời bị trừ 06 điểm giấy phép lái xe. Ngoài ra, anh Mạnh phải tháo bỏ thiết bị vi phạm và khôi phục tình trạng ban đầu của biển số xe theo quy định.
Tình huống 4: Điều khiển xe ô tô không gắn đủ biển số
Anh Quân đưa xe ô tô đến gara để sửa chữa sau va chạm. Do biển số phía sau bị hư hỏng nên gara đã tháo biển số để thay mới. Sau khi nhận xe, anh Quân vẫn điều khiển phương tiện tham gia giao thông khi chưa gắn lại biển số phía sau. Khi bị lực lượng Cảnh sát giao thông dừng xe kiểm tra, anh Quân cho rằng xe vẫn sử dụng biển số do cơ quan có thẩm quyền cấp và chỉ thiếu một biển trong thời gian chờ sửa chữa nên không phải là hành vi vi phạm.
Hỏi: Trường hợp của anh Quân sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật?
Trả lời:
Điểm b khoản 8 Điều 13 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Điều 3 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“8. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
"b) Điều khiển xe không gắn đủ biển số hoặc gắn biển số không đúng vị trí, không đúng quy cách theo quy định; gắn biển số không rõ chữ, số hoặc sơn, dán lên chữ, số của biển số xe; gắn biển số bị bẻ cong, che lấp, làm thay đổi chữ, số, màu sắc (của chữ, số, nền biển số xe), hình dạng, kích thước của biển số xe; sử dụng chất liệu, vật liệu, thiết bị làm thay đổi khả năng nhận diện thông tin biển số xe của phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc).".
Trong tình huống trên, mặc dù việc tháo biển số phía sau để sửa chữa là có lý do, nhưng khi tham gia giao thông, xe ô tô của anh Quân không được gắn đủ số lượng biển số theo quy định. Vì vậy, hành vi của anh Quân vẫn thuộc trường hợp vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Việc biển số đã được cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc chỉ thiếu biển số trong thời gian chờ sửa chữa không phải là căn cứ để miễn trừ trách nhiệm.
Như vậy, đối với hành vi này, anh Quân bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại điểm b khoản 8 điều 13 Nghị định 168/2024/NĐ-CP anh Quân còn bị trừ 06 điểm giấy phép lái xe; đồng thời phải gắn đủ biển số theo đúng quy định hoặc khôi phục tình trạng ban đầu của phương tiện trước khi tiếp tục tham gia giao thông.
Tình huống 5: Lắp thiết bị che biển số điều khiển từ xa
Anh Hùng lắp trên xe ô tô của mình một thiết bị điều khiển từ xa có thể đóng, mở tấm che biển số. Mỗi khi đi qua khu vực có hệ thống camera giám sát giao thông, anh sử dụng điều khiển để che một phần biển số nhằm tránh bị ghi nhận thông tin phương tiện. Sau khi qua khu vực này, anh lại mở tấm che để biển số trở về trạng thái bình thường. Trong quá trình tuần tra, lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện trên xe có lắp thiết bị làm thay đổi khả năng nhận diện biển số của phương tiện và tiến hành kiểm tra.
Hỏi: Hành vi của anh Hùng sẽ bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Điểm b khoản 8 Điều 13 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Điều 3 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“8. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
"b) Điều khiển xe không gắn đủ biển số hoặc gắn biển số không đúng vị trí, không đúng quy cách theo quy định; gắn biển số không rõ chữ, số hoặc sơn, dán lên chữ, số của biển số xe; gắn biển số bị bẻ cong, che lấp, làm thay đổi chữ, số, màu sắc (của chữ, số, nền biển số xe), hình dạng, kích thước của biển số xe; sử dụng chất liệu, vật liệu, thiết bị làm thay đổi khả năng nhận diện thông tin biển số xe của phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc).".
Trong trường hợp này, mặc dù xe của anh Hùng vẫn gắn biển số do cơ quan có thẩm quyền cấp, nhưng việc lắp đặt và sử dụng thiết bị che biển số đã làm thay đổi khả năng nhận diện thông tin biển số của phương tiện đối với hệ thống giám sát và thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ. Do đó, hành vi của anh Hùng là vi phạm pháp luật và bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng.
Ngoài ra: Người điều khiển phương tiện bị trừ 06 điểm giấy phép lái xe; đồng thời phải tháo bỏ thiết bị vi phạm và khôi phục tình trạng ban đầu của biển số xe theo quy định.
Tình huống 6: Tự ý thay đổi vị trí gắn biển số xe ô tô
Để chiếc xe có kiểu dáng thể thao hơn, anh Hoàng đã lắp thêm bộ cản trước (body kit). Do thiết kế mới không còn vị trí gắn biển số như ban đầu, cửa hàng đã chuyển biển số từ chính giữa đầu xe sang góc bên phải cản trước. Sau khi nhận xe, anh Hoàng vẫn sử dụng phương tiện để đi làm hằng ngày vì cho rằng biển số vẫn được gắn đầy đủ, không bị che khuất và các thông tin trên biển số vẫn nhìn rõ nên không ảnh hưởng đến việc quản lý của cơ quan chức năng. Một người bạn sau khi nhìn thấy chiếc xe bảo anh Hoàng tự ý thay đổi vị trí gắn biển số như vậy là không đúng quy định của pháp luật và sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính.
Hỏi: Trong tình huống trên anh Hoàng có bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Điểm b khoản 8 Điều 13 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Điều 3 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"8. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
b) Điều khiển xe không gắn đủ biển số hoặc gắn biển số không đúng vị trí, không đúng quy cách theo quy định; gắn biển số không rõ chữ, số hoặc sơn, dán lên chữ, số của biển số xe; gắn biển số bị bẻ cong, che lấp, làm thay đổi chữ, số, màu sắc (của chữ, số, nền biển số xe), hình dạng, kích thước của biển số xe; sử dụng chất liệu, vật liệu, thiết bị làm thay đổi khả năng nhận diện thông tin biển số xe của phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc)."
Trong tình huống trên, anh Hoàng đã tự ý thay đổi vị trí gắn biển số của xe ô tô so với vị trí theo quy định để phù hợp với thiết kế mới của cản trước. Mặc dù biển số vẫn do cơ quan có thẩm quyền cấp, không bị che khuất và các thông tin trên biển số vẫn nhìn rõ, nhưng việc gắn biển số không đúng vị trí theo quy định vẫn là hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ.
Như vậy, anh Hoàng bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng đối vưới hành vi gắn biển số không đúng vị trí, không đúng quy cách theo quy định. Ngoài ra, theo điểm b khoản 13 Điều 13 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Hoàng còn bị trừ 06 điểm giấy phép lái xe; đồng thời phải đưa biển số về đúng vị trí, đúng quy cách theo quy định hoặc khôi phục tình trạng ban đầu của phương tiện trước khi tiếp tục tham gia giao thông.
Tình huống 7: Tự ý bẻ cong biển số xe để tránh va chạm
Anh Minh thường xuyên điều khiển xe mô tô trên các tuyến đường đông đúc. Lo ngại biển số phía sau dễ bị gãy hoặc va quệt khi dựng xe, anh đã dùng tay bẻ cong một phần biển số vào phía trong đuôi xe. Sau đó, anh tiếp tục sử dụng phương tiện hằng ngày và cho rằng biển số vẫn còn nguyên, chỉ thay đổi hình dạng một chút nên không ảnh hưởng đến việc nhận diện của cơ quan chức năng.
Trong một lần trò chuyện, bạn bè cho rằng việc tự ý bẻ cong biển số xe có thể là hành vi vi phạm pháp luật.
Hỏi: Trường hợp của anh Minh sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật?
Trả lời:
Điểm b khoản 3 Điều 14 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Điều 4 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
" 3. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
b) Điều khiển xe gắn biển số không đúng vị trí, không đúng quy cách theo quy định; gắn biển số không rõ chữ, số hoặc sơn, dán lên chữ, số của biển số xe; gắn biển số bị bẻ cong, che lấp, làm thay đổi chữ, số, màu sắc (của chữ, số, nền biển số xe), hình dạng, kích thước của biển số xe; sử dụng chất liệu, vật liệu, thiết bị làm thay đổi khả năng nhận diện thông tin biển số xe của phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ."
Trong tình huống trên, anh Minh đã tự ý bẻ cong biển số xe so với tình trạng ban đầu do cơ quan có thẩm quyền cấp. Mặc dù mục đích chỉ để hạn chế va chạm khi sử dụng xe và biển số vẫn còn gắn trên phương tiện, nhưng việc làm thay đổi hình dạng của biển số đã thuộc hành vi bị pháp luật nghiêm cấm. Hành vi này có thể ảnh hưởng đến khả năng nhận diện phương tiện của người tham gia giao thông và các thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ. Như vậy, anh Minh bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với hành vi điều khiển xe gắn biển số bị bẻ cong.
Ngoài ra, theo quy định tại điểm b khoản 8 Điều 14 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Minh còn bị trừ 06 điểm giấy phép lái xe, đồng thời phải đưa biển số xe về đúng quy cách theo quy định trước khi tiếp tục tham gia giao thông.
Tình huống 8: Dán đề-can lên biển số xe để trang trí
Anh Tuấn sử dụng xe mô tô để đi làm hằng ngày. Sau khi thay bộ tem mới cho xe, anh mua thêm một miếng đề-can phản quang hình ngôi sao nhỏ và dán lên góc biển số phía sau để tạo điểm nhấn. Trong quá trình dán, một phần đề-can đã dán đè lên một chữ số trên biển số xe, làm cho chữ số đó không còn rõ ràng như ban đầu. Tuy nhiên, anh Tuấn cho rằng biển số vẫn có thể nhận biết được nên không bóc bỏ và tiếp tục sử dụng xe tham gia giao thông. Anh Nam là bạn thân của Tuấn góp ý việc dán đề-can lên biển số có thể vi phạm quy định của pháp luật, nhưng anh Tuấn cho rằng đây chỉ là hình thức trang trí, không làm thay đổi biển số xe.
Hỏi: Việc dán đề-can lên chữ, số của biển số xe để trang trí như trường hợp của anh Tuấn có vi phạm quy định của pháp luật không? Nếu có thì bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Điểm b khoản 3 Điều 14 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Điều 4 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"3. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
b) Điều khiển xe gắn biển số không đúng vị trí, không đúng quy cách theo quy định; gắn biển số không rõ chữ, số hoặc sơn, dán lên chữ, số của biển số xe; gắn biển số bị bẻ cong, che lấp, làm thay đổi chữ, số, màu sắc (của chữ, số, nền biển số xe), hình dạng, kích thước của biển số xe; sử dụng chất liệu, vật liệu, thiết bị làm thay đổi khả năng nhận diện thông tin biển số xe của phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ."
Trong tình huống trên, anh Tuấn đã dán đề-can lên chữ, số của biển số xe, làm cho chữ, số trên biển số không còn rõ ràng theo tình trạng ban đầu do cơ quan có thẩm quyền cấp. Mặc dù mục đích chỉ để trang trí và không nhằm che giấu biển số, nhưng hành vi dán lên chữ, số của biển số xe đã thuộc trường hợp bị pháp luật nghiêm cấm.
Như vậy, anh Tuấn bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với hành vi điều khiển xe gắn biển số không rõ chữ, số hoặc dán lên chữ, số của biển số xe theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, theo quy định tại điểm b khoản 8 Điều 14 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Tuấn còn bị trừ 06 điểm giấy phép lái xe; đồng thời phải đưa biển số xe về đúng quy cách theo quy định trước khi tiếp tục tham gia giao thông.
Tình huống 9: Chở cát không che phủ bạt
Anh Hùng là lái xe ô tô tải chuyên chở vật liệu xây dựng. Một buổi sáng, anh nhận vận chuyển một xe cát từ bãi tập kết đến công trình xây dựng cách đó khoảng 02 km. Do quãng đường di chuyển ngắn và muốn tiết kiệm thời gian, anh Hùng không phủ bạt che đậy thùng xe mà điều khiển xe lưu thông trên đường.
Thấy vậy, một người làm việc tại bãi vật liệu nhắc anh Hùng phải che đậy cát trước khi vận chuyển. Tuy nhiên, anh Hùng cho rằng cát được chở thấp hơn thành thùng xe, chưa bị rơi vãi xuống đường nên không vi phạm quy định của pháp luật.
Hỏi: Trong tình huống này anh Hùng có bị xử phạt vi phạm hành chính không?
Trả lời:
Điểm a khoản 2 Điều 17 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Điều 5 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Chở vật liệu xây dựng, đất đá, phế thải, hàng rời mà không che đậy; làm rơi vãi hàng hóa, vật liệu xây dựng, đất đá, phế thải, bùn, hàng rời xuống đường; chở hàng hoặc chất thải để nước chảy xuống đường;”.
Trong tình huống trên, cát là vật liệu xây dựng, hàng rời nhưng anh Hùng đã điều khiển xe ô tô tải chở cát mà không thực hiện việc che đậy theo quy định. Hành vi này đã thuộc trường hợp bị xử phạt, không phụ thuộc vào việc cát đã rơi vãi xuống đường hay chưa.
Như vậy, quan điểm của anh Hùng cho rằng chỉ bị xử phạt khi cát rơi vãi xuống đường là không đúng. Với hành vi chở vật liệu xây dựng, hàng rời mà không che đậy, anh Hùng bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng.
Tình huống 10: Chở hải sản để nước chảy xuống đường
Anh Minh nhận vận chuyển hải sản từ cảng cá đến chợ đầu mối bằng xe ô tô tải. Để giữ hải sản tươi sống, trên thùng xe có chứa nhiều nước đá. Trong quá trình vận chuyển, nước đá tan chảy liên tục từ thùng xe xuống mặt đường do hệ thống thoát nước của thùng xe không được bịt kín.
Khi bị lực lượng Cảnh sát giao thông dừng xe kiểm tra, anh Minh cho rằng nước chảy xuống đường chỉ là nước đá tan, không phải chất thải nên không vi phạm quy định của pháp luật.
Hỏi: Trong tình huống trên anh Minh có bị xử phạt không?
Trả lời:
Điểm a khoản 2 Điều 17 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Điều 5 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Chở vật liệu xây dựng, đất đá, phế thải, hàng rời mà không che đậy; làm rơi vãi hàng hóa, vật liệu xây dựng, đất đá, phế thải, bùn, hàng rời xuống đường; chở hàng hoặc chất thải để nước chảy xuống đường;"
Trong tình huống trên, anh Minh đã điều khiển xe ô tô tải chở hải sản để nước từ hàng hóa chảy xuống mặt đường trong quá trình tham gia giao thông. Hành vi này thuộc trường hợp chở hàng để nước chảy xuống đường theo quy định của pháp luật. Quy định không chỉ áp dụng đối với trường hợp chở chất thải để nước chảy xuống đường mà còn áp dụng đối với trường hợp chở hàng để nước chảy xuống đường.
Do đó, với hành vi chở hàng để nước chảy xuống đường, anh Minh bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng.
Tình huống 11: Học sinh 17 tuổi điều khiển xe mô tô đi học
Nam, 17 tuổi, là học sinh lớp 11. Do nhà cách trường khoảng chưa đến 2 km nên thi thoảng Nam thường tự điều khiển xe mô tô 110 cm³ của gia đình để đi học. Mặc dù bố mẹ nhiều lần nhắc nhở chưa đủ tuổi điều khiển xe mô tô nhưng Nam cho rằng chỉ còn vài tháng nữa là đủ 18 tuổi nên vẫn điều khiển xe tham gia giao thông.
Một buổi sáng, trên đường đến trường, Nam bị lực lượng Cảnh sát giao thông dừng xe kiểm tra và lập biên bản đối với hành vi điều khiển xe mô tô khi chưa đủ tuổi theo quy định.
Hỏi: Trong trường hợp này, Nam sẽ bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Điểm a khoản 4 Điều 18 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Điều 6 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"4. Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô và các loại xe tương tự xe mô tô."
Trong tình huống trên, Nam 17 tuổi, thuộc trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Việc Nam điều khiển xe mô tô 110 cm³ tham gia giao thông đã thuộc hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 4 Điều 18 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Điều 6 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Như vậy, Nam bị phạt tiền từ 400.000 đồng đến 800.000 đồng đối với hành vi người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô và các loại xe tương tự xe mô tô theo quy định của pháp luật.
Tình huống 12: Lái xe hợp đồng không mang theo hợp đồng vận tải và danh sách hành khách
Anh Bắc là lái xe của một doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng. Theo phân công của công ty, anh điều khiển xe ô tô 16 chỗ đưa một đoàn khách đi tham quan theo hợp đồng đã được ký kết bằng văn bản giấy.
Do vội xuất phát, anh Bắc không mang theo hợp đồng vận tải và danh sách hành khách theo quy định mà cho rằng doanh nghiệp đã lưu đầy đủ hồ sơ nên khi cơ quan chức năng kiểm tra chỉ cần liên hệ với công ty là được.
Trong quá trình lưu thông, lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra phương tiện và yêu cầu xuất trình hợp đồng vận tải cùng danh sách hành khách. Anh Bắc không xuất trình được các giấy tờ này.
Hỏi: Trong trường hợp này, anh Hùng bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Điểm đ khoản 5 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 1 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“5. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
đ) Điều khiển xe vận tải hành khách theo hợp đồng sử dụng hợp đồng bằng văn bản giấy mà không có hợp đồng vận tải, danh sách hành khách theo quy định; có hợp đồng vận tải nhưng không đúng theo quy định; đón khách, chở người không có tên trong danh sách hành khách theo hợp đồng đã ký;"
Trong tình huống trên, xe vận tải hành khách theo hợp đồng sử dụng hợp đồng bằng văn bản giấy nhưng khi tham gia giao thông, người điều khiển xe không có hợp đồng vận tải và danh sách hành khách theo quy định để xuất trình khi được kiểm tra. Hành vi này thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 5 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Như vậy, anh Bắc bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi điều khiển xe vận tải hành khách theo hợp đồng sử dụng hợp đồng bằng văn bản giấy mà không có hợp đồng vận tải, danh sách hành khách theo quy định.
Ngoài ra, theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Bắc còn bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 13: Đón khách ngoài danh sách hành khách theo hợp đồng đã ký
Công ty Cổ phần Vận tải B ký hợp đồng bằng văn bản giấy đưa 28 cán bộ của một doanh nghiệp đi du lịch. Trên đường di chuyển, anh Khánh là người điều khiển xe một người quen gọi điện xin cho đi nhờ cùng tuyến. Mặc dù người này không có tên trong danh sách hành khách theo hợp đồng đã ký nhưng anh Khánh vẫn đồng ý cho lên xe. Khi xe đang lưu thông, lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra và đối chiếu danh sách hành khách với số người thực tế trên xe, phát hiện có 01 hành khách không có tên trong danh sách theo hợp đồng.
Hỏi: Trong trường hợp này, anh Khánh sẽ bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
“5. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
đ) Điều khiển xe vận tải hành khách theo hợp đồng sử dụng hợp đồng bằng văn bản giấy mà không có hợp đồng vận tải, danh sách hành khách theo quy định; có hợp đồng vận tải nhưng không đúng theo quy định; đón khách, chở người không có tên trong danh sách hành khách theo hợp đồng đã ký;"
Trong tình huống trên, mặc dù chuyến xe được thực hiện theo hợp đồng vận tải bằng văn bản giấy, nhưng người điều khiển xe đã đón và chở một người không có tên trong danh sách hành khách theo hợp đồng đã ký. Hành vi này thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 5 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Như vậy, anh Khánh bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi điều khiển xe vận tải hành khách theo hợp đồng sử dụng hợp đồng bằng văn bản giấy mà không có hợp đồng vận tải, danh sách hành khách theo quy định. Ngoài ra, theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Khánh còn bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 14. Đón, trả khách tại địa điểm cố định của doanh nghiệp trên tuyến đường phố
Công ty TNHH Vận tải Minh Phát kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng thường xuyên đưa đón khách từ thành phố A đi thành phố B. Theo hợp đồng vận tải đã ký với khách, địa điểm đón khách là Trung tâm Hội nghị thành phố A. Tuy nhiên, để thuận tiện cho việc tập trung hành khách, anh Hùng là lái xe thường xuyên đón khách tại khu vực trước trụ sở chi nhánh của công ty trên một tuyến đường phố trung tâm. Đây là địa điểm cố định do doanh nghiệp thuê để giao dịch và tập kết hành khách. Trong quá trình tuần tra, lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra và xác định việc đón khách diễn ra thường xuyên tại địa điểm này.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Hùng bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm g khoản 5 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"5. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
g) Điều khiển xe vận chuyển hành khách theo hợp đồng mà đón, trả khách tại trụ sở chính, trụ sở chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc tại một địa điểm cố định khác do đơn vị kinh doanh vận tải thuê, hợp tác kinh doanh, trên các tuyến đường phố; đón, trả hành khách, cán bộ, công chức, viên chức, công nhân không đúng địa điểm được ghi trong hợp đồng vận tải đã ký, trừ hành vi vi phạm quy định tại khoản 8 Điều này; vận chuyển không đúng đối tượng theo quy định (áp dụng đối với xe kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng vận chuyển trẻ em mầm non, học sinh, sinh viên, cán bộ, công chức, viên chức, công nhân)."
Trong tình huống trên, hợp đồng vận tải đã xác định địa điểm đón khách là Trung tâm Hội nghị thành phố A. Tuy nhiên, anh Hùng lại đón hành khách tại trụ sở chi nhánh của đơn vị kinh doanh vận tải trên tuyến đường phố, là địa điểm cố định do doanh nghiệp sử dụng để giao dịch và tập kết hành khách. Hành vi này thuộc trường hợp đón khách tại trụ sở chi nhánh hoặc địa điểm cố định do đơn vị kinh doanh vận tải thuê trên các tuyến đường phố theo quy định của pháp luật.
Như vậy, hành vi của anh Hùng thuộc trường hợp quy định tại điểm g khoản 5 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Như vậy, anh Hùng bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Hùng còn bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 15. Đón khách không đúng địa điểm ghi trong hợp đồng vận tải
Công ty Cổ phần Du lịch Hoàng Gia ký hợp đồng vận chuyển đoàn cán bộ của Trường Tiểu học Minh Khai đến khu nghỉ dưỡng. Theo hợp đồng, địa điểm đón khách là trước cổng trường.
Đến ngày thực hiện hợp đồng, do khu vực trước cổng trường không còn vị trí thuận lợi để dừng đón khách, anh Nam là lái xe tự ý chuyển địa điểm đón khách sang một bãi đất trống cách địa điểm ghi trong hợp đồng khoảng 500 mét mà không thông báo cho đơn vị kinh doanh vận tải để điều chỉnh hợp đồng theo quy định. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định địa điểm đón khách thực tế không đúng với địa điểm đã ghi trong hợp đồng vận tải.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Nam bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm g khoản 5 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"5. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
g) Điều khiển xe vận chuyển hành khách theo hợp đồng mà đón, trả khách tại trụ sở chính, trụ sở chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc tại một địa điểm cố định khác do đơn vị kinh doanh vận tải thuê, hợp tác kinh doanh, trên các tuyến đường phố; đón, trả hành khách, cán bộ, công chức, viên chức, công nhân không đúng địa điểm được ghi trong hợp đồng vận tải đã ký, trừ hành vi vi phạm quy định tại khoản 8 Điều này; vận chuyển không đúng đối tượng theo quy định (áp dụng đối với xe kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng vận chuyển trẻ em mầm non, học sinh, sinh viên, cán bộ, công chức, viên chức, công nhân)."
Trong tình huống trên, hợp đồng vận tải đã xác định rõ địa điểm đón khách là trước cổng Trường Tiểu học Minh Khai. Tuy nhiên, anh Nam đã đón hành khách tại địa điểm khác với địa điểm được ghi trong hợp đồng vận tải mà không thực hiện việc điều chỉnh hợp đồng theo quy định. Hành vi này là đón hành khách không đúng địa điểm được ghi trong hợp đồng vận tải đã ký.
Như vậy, hành vi của anh Nam thuộc trường hợp quy định tại điểm g khoản 5 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Do đó, anh Nam bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Nam còn bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 16. Vận chuyển không đúng đối tượng theo hợp đồng
Trường Tiểu học Hoa Sen ký hợp đồng với Công ty TNHH Vận tải An Bình để đưa đón học sinh từ nơi ở đến trường hằng ngày. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ngoài học sinh của nhà trường, lái xe là anh Bình tự ý nhận chở thêm một số người dân có nhu cầu đi cùng tuyến và thu tiền trực tiếp. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định trên xe có nhiều hành khách không thuộc đối tượng được vận chuyển theo hợp đồng đã ký giữa nhà trường và đơn vị vận tải.
Hỏi: Trong tình huống trên anh Bình lái xe bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm g khoản 5 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
" 5. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
g) Điều khiển xe vận chuyển hành khách theo hợp đồng mà đón, trả khách tại trụ sở chính, trụ sở chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc tại một địa điểm cố định khác do đơn vị kinh doanh vận tải thuê, hợp tác kinh doanh, trên các tuyến đường phố; đón, trả hành khách, cán bộ, công chức, viên chức, công nhân không đúng địa điểm được ghi trong hợp đồng vận tải đã ký, trừ hành vi vi phạm quy định tại khoản 8 Điều này; vận chuyển không đúng đối tượng theo quy định (áp dụng đối với xe kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng vận chuyển trẻ em mầm non, học sinh, sinh viên, cán bộ, công chức, viên chức, công nhân)."
Trong tình huống trên, hợp đồng vận tải được ký kết để vận chuyển học sinh của Trường Tiểu học Hoa Sen. Tuy nhiên, anh Bình đã chở thêm người dân không thuộc đối tượng được ghi trong hợp đồng vận tải. Hành vi này là vận chuyển không đúng đối tượng đối với xe kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng vận chuyển học sinh và thuộc trường hợp bị xử phạt theo quy định của pháp luật.
Như vậy, hành vi của anh Bình là vận chuyển không đúng đối tượng theo quy định đối với xe kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng vận chuyển học sinh, thuộc trường hợp quy định tại điểm g khoản 5 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Do đó, anh Bình bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Bình còn bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 17. Điều khiển xe kinh doanh vận tải hành khách không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe
Công ty TNHH Vận tải Hoàng Long giao cho anh Tuấn điều khiển xe ô tô khách 29 chỗ để vận chuyển hành khách theo hợp đồng từ thành phố A đến thành phố B. Trong quá trình tuần tra, kiểm soát, lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra phương tiện và phát hiện xe do anh Tuấn điều khiển không được lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe theo quy định.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Tuấn bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Điểm l khoản 5 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"" 5. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
l) Điều khiển xe kinh doanh vận tải hành khách, xe vận tải nội bộ không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe hoặc có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng không có tác dụng trong quá trình xe tham gia giao thông theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe lắp trên xe ô tô."
Trong tình huống trên, anh Tuấn điều khiển xe kinh doanh vận tải hành khách khi phương tiện không được lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe theo quy định. Hành vi này thuộc trường hợp quy định tại điểm l khoản 5 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Do đó, anh Tuấn bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Tuấn còn bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 18. Điều khiển xe có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng thiết bị không hoạt động
Tình huống
Anh Nam là lái xe của Công ty Cổ phần Vận tải Thành Công, được giao điều khiển xe ô tô khách 45 chỗ kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định. Trong quá trình tuần tra, kiểm soát, lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra phương tiện và xác định xe có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe. Tuy nhiên, thiết bị không hoạt động trong suốt quá trình xe tham gia giao thông nên không ghi nhận được hình ảnh theo quy định.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Nam bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm l khoản 5 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"" 5. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
l) Điều khiển xe kinh doanh vận tải hành khách, xe vận tải nội bộ không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe hoặc có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng không có tác dụng trong quá trình xe tham gia giao thông theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe lắp trên xe ô tô."
Trong tình huống trên, anh Nam điều khiển xe kinh doanh vận tải hành khách có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng thiết bị không có tác dụng trong quá trình xe tham gia giao thông theo quy định. Hành vi này thuộc trường hợp bị xử phạt theo quy định của pháp luật.
Hành vi của anh Nam thuộc trường hợp quy định tại điểm l khoản 5 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Như vậy, anh Nam bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Nam còn bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 19. Làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe
Anh Hùng là lái xe của Công ty TNHH Vận tải Phương Đông, được giao điều khiển xe ô tô khách 34 chỗ kinh doanh vận tải hành khách. Trong quá trình kiểm tra dữ liệu từ thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe, lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện dữ liệu do thiết bị lưu trữ và truyền về hệ thống đã bị can thiệp, không phản ánh đúng quá trình điều khiển phương tiện của lái xe. Qua xác minh, cơ quan có thẩm quyền xác định anh Hùng đã tác động làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Hùng bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm l khoản 5 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"" 5. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
l) Điều khiển xe kinh doanh vận tải hành khách, xe vận tải nội bộ không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe hoặc có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng không có tác dụng trong quá trình xe tham gia giao thông theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe lắp trên xe ô tô."
Trong tình huống trên, anh Hùng đã làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe lắp trên xe ô tô, làm cho dữ liệu không phản ánh đúng quá trình điều khiển phương tiện. Hành vi này thuộc trường hợp bị xử phạt theo quy định của pháp luật.
Như vậy, hành vi của anh Hùng thuộc trường hợp quy định tại điểm l khoản 5 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Do đó, anh Hùng bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Hùng còn bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 20. Điều khiển xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách
Công ty TNHH Vận tải Hoàng Long giao anh Tuấn điều khiển xe ô tô khách 29 chỗ để vận chuyển hành khách theo tuyến cố định.
Trong quá trình tuần tra, kiểm soát, lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra phương tiện và phát hiện xe do anh Tuấn điều khiển không được lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách theo quy định.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Tuấn bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm n khoản 5 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại điểm d khoản 1 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
" 5. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
n) Điều khiển xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách từ 08 chỗ trở lên (không kể chỗ của người lái xe) không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách hoặc có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách nhưng không có tác dụng trong quá trình xe tham gia giao thông theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách lắp trên xe ô tô."
Trong tình huống trên, anh Tuấn điều khiển xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách từ 08 chỗ trở lên khi phương tiện không được lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách theo quy định. Như vậy, hành vi của anh Tuấn thuộc trường hợp quy định tại điểm n khoản 5 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được bổ sung tại điểm d khoản 1 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Như vậy, anh Tuấn bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Tuấn còn bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 21. Điều khiển xe có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách nhưng thiết bị không hoạt động
Anh Nam là lái xe của Công ty Cổ phần Vận tải Thành Công, được giao điều khiển xe ô tô khách 45 chỗ kinh doanh vận tải hành khách.
Trong quá trình kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định xe có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách. Tuy nhiên, thiết bị không hoạt động trong suốt quá trình xe tham gia giao thông, không ghi nhận được hình ảnh theo quy định.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Nam bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm n khoản 5 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại điểm d khoản 1 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
" 5. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
n) Điều khiển xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách từ 08 chỗ trở lên (không kể chỗ của người lái xe) không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách hoặc có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách nhưng không có tác dụng trong quá trình xe tham gia giao thông theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách lắp trên xe ô tô."
Trong tình huống trên, anh Nam điều khiển xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách từ 08 chỗ trở lên có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách nhưng thiết bị không có tác dụng trong quá trình xe tham gia giao thông theo quy định.
Như vậy, hành vi của anh Nam thuộc trường hợp quy định tại điểm n khoản 5 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được bổ sung tại điểm d khoản 1 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Do đó, anh Nam bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Nam còn bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 22. Làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách
Anh Hùng là lái xe của Công ty TNHH Vận tải Phương Đông, được giao điều khiển xe ô tô khách 35 chỗ kinh doanh vận tải hành khách. rong quá trình vận chuyển hành khách, để che giấu việc xe chở quá số lượng người theo quy định, anh Hùng đã can thiệp làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách, khiến dữ liệu lưu trữ và truyền về hệ thống không phản ánh đúng hình ảnh thực tế trong khoang hành khách. Khi xe bị kiểm tra, cơ quan chức năng phát hiện dữ liệu do thiết bị lưu trữ, truyền về hệ thống không phản ánh đúng hình ảnh thực tế trong khoang chở khách.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Hùng bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm n khoản 5 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại điểm d khoản 1 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
" 5. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
n) Điều khiển xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách từ 08 chỗ trở lên (không kể chỗ của người lái xe) không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách hoặc có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách nhưng không có tác dụng trong quá trình xe tham gia giao thông theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách lắp trên xe ô tô."
Trong tình huống trên, anh Hùng điều khiển xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách từ 08 chỗ trở lên và đã làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách, làm cho dữ liệu không phản ánh đúng hình ảnh thực tế trong khoang chở khách.
Như vậy, hành vi của anh Hùng là làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách lắp trên xe ô tô, thuộc trường hợp quy định tại điểm n khoản 5 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được bổ sung tại điểm d khoản 1 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Do đó, anh Hùng bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Hùng còn bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 23. Điều khiển xe kinh doanh vận tải hành khách không lắp thiết bị giám sát hành trình
Công ty TNHH Vận tải Hoàng Long giao anh Tuấn điều khiển xe ô tô khách 29 chỗ để vận chuyển hành khách theo tuyến cố định từ thành phố A đến thành phố B. Trong quá trình tuần tra, kiểm soát, lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra phương tiện và phát hiện xe do anh Tuấn điều khiển không được lắp thiết bị giám sát hành trình theo quy định.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Tuấn bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm đ khoản 6 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
" 6. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
đ) Điều khiển xe kinh doanh vận tải hành khách, xe vận tải nội bộ không lắp thiết bị giám sát hành trình của xe theo quy định hoặc có lắp thiết bị giám sát hành trình của xe nhưng thiết bị không hoạt động theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị giám sát hành trình của xe ô tô."
Trong tình huống trên, xe do anh Tuấn điều khiển là xe kinh doanh vận tải hành khách thuộc đối tượng phải lắp thiết bị giám sát hành trình theo quy định nhưng không lắp. Hành vi của anh Tuấn là điều khiển xe kinh doanh vận tải hành khách không lắp thiết bị giám sát hành trình theo quy định, thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 6 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Như vậy, anh Tuấn bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại điểm b khoản 10 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Tuấn còn bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 24. Điều khiển xe kinh doanh vận tải hành khách có lắp thiết bị giám sát hành trình nhưng thiết bị không hoạt động
Anh Nam là lái xe của Công ty Cổ phần Vận tải Thành Công, được giao điều khiển xe ô tô khách 45 chỗ vận chuyển hành khách theo tuyến cố định. Trong quá trình tuần tra, kiểm soát, lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra phương tiện và xác định xe có lắp thiết bị giám sát hành trình nhưng thiết bị không hoạt động, không ghi nhận và truyền dữ liệu theo quy định.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Nam bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm đ khoản 6 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
" 6. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
đ) Điều khiển xe kinh doanh vận tải hành khách, xe vận tải nội bộ không lắp thiết bị giám sát hành trình của xe theo quy định hoặc có lắp thiết bị giám sát hành trình của xe nhưng thiết bị không hoạt động theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị giám sát hành trình của xe ô tô."
Trong tình huống trên, xe do anh Nam điều khiển là xe kinh doanh vận tải hành khách thuộc đối tượng phải lắp thiết bị giám sát hành trình theo quy định. Thiết bị giám sát hành trình được lắp trên xe do anh Nam điều khiển không hoạt động theo quy định. Hành vi của anh Nam thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 6 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Như vậy, anh Nam bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại điểm b khoản 10 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Nam còn bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 25. Làm sai lệch dữ liệu của thiết bị giám sát hành trình
Anh Hùng là lái xe của Công ty TNHH Vận tải Phương Đông, được giao điều khiển xe ô tô khách 34 chỗ kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định Thái Nguyên - Hà Nội. Trong quá trình điều khiển phương tiện, anh Hùng đã làm sai lệch dữ liệu của thiết bị giám sát hành trình lắp trên xe, làm cho dữ liệu do thiết bị lưu trữ và truyền về hệ thống không phản ánh đúng quá trình hoạt động của xe. Khi đang điều khiển phương tiện trên tuyến Quốc lộ 3, anh Hùng bị lực lượng Cảnh sát giao thông dừng xe kiểm tra. Qua khai thác dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình và đối chiếu với thực tế hoạt động của phương tiện, lực lượng chức năng xác định dữ liệu của thiết bị đã bị làm sai lệch, từ đó lập biên bản vi phạm hành chính đối với anh Hùng.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Hùng bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm đ khoản 6 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
" 6. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
đ) Điều khiển xe kinh doanh vận tải hành khách, xe vận tải nội bộ không lắp thiết bị giám sát hành trình của xe theo quy định hoặc có lắp thiết bị giám sát hành trình của xe nhưng thiết bị không hoạt động theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị giám sát hành trình của xe ô tô."
Trong tình huống trên, xe do anh Hùng điều khiển là xe kinh doanh vận tải hành khách thuộc đối tượng phải lắp thiết bị giám sát hành trình theo quy định. Qua xác minh, cơ quan có thẩm quyền xác định anh Hùng đã làm sai lệch dữ liệu của thiết bị giám sát hành trình lắp trên xe. Hành vi này thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 6 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Như vậy, anh Hùng bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại điểm b khoản 10 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Hùng còn bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 26. Điều khiển xe ô tô không kinh doanh vận tải hành khách nhưng chở khách có thu tiền
Anh Minh là chủ sở hữu xe ô tô 07 chỗ, đăng ký sử dụng vào mục đích cá nhân, không đăng ký kinh doanh vận tải. Thông qua mạng xã hội, anh Minh nhận đặt chỗ của nhiều người có nhu cầu đi từ Hà Nội đến Hải Phòng và thu tiền của từng hành khách. Khi đang di chuyển trên đường, lực lượng Cảnh sát giao thông dừng xe kiểm tra phương tiện và phát hiện anh Minh điều khiển xe ô tô không kinh doanh vận tải hành khách nhưng đã nhận đặt chỗ và thu tiền để chở người trên xe.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Minh bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Khoản 8a Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 3 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"8a. Phạt tiền từ 12.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng đối với người điều khiển xe ô tô không kinh doanh vận tải hành khách nhưng chở người có thu tiền hoặc ký hợp đồng, nhận đặt chỗ để chở người trên xe."
Trong tình huống trên, xe do anh Minh điều khiển là xe ô tô không kinh doanh vận tải hành khách. Mặc dù vậy, anh Minh đã sử dụng phương tiện này để nhận đặt chỗ, thu tiền của hành khách nhằm chở người trên xe. Hành vi này đã làm thay đổi mục đích sử dụng của phương tiện từ không kinh doanh sang thực hiện hoạt động vận tải hành khách có thu tiền và thuộc trường hợp quy định tại khoản 8a Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được bổ sung tại khoản 3 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Như vậy, đối chiếu theo quy định, anh Minh bị phạt tiền từ 12.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại điểm c khoản 10 Điều 20 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 7 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP), anh Minh còn bị trừ 06 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 27. Chở hàng trên nóc thùng xe
Anh Hùng điều khiển xe tải chở các thùng xốp đựng hàng điện tử từ kho đến đại lý. Do số lượng hàng hóa nhiều hơn sức chứa của thùng xe, anh Hùng đã xếp thêm nhiều kiện hàng lên nóc thùng xe và dùng dây chằng để cố định trước khi lưu thông. Trong quá trình tuần tra, lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện phương tiện chở hàng trên nóc thùng xe nên đã dừng xe kiểm tra, lập biên bản.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Hùng bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm b khoản 2 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
" 2. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
b) Chở hàng trên nóc thùng xe; chở hàng vượt quá bề rộng thùng xe (kể cả bề rộng rơ moóc và sơ mi rơ moóc); chở hàng vượt phía trước, phía sau thùng xe (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc) trên 10% chiều dài toàn bộ của xe theo thiết kế được ghi trong chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe, trừ hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 8 Điều 21 Nghị định này."
Trong tình huống trên, anh Hùng đã điều khiển xe tải chở thêm hàng hóa trên nóc thùng xe nhằm vận chuyển được nhiều hàng hơn trong một chuyến. Mặc dù hàng hóa đã được chằng buộc, nhưng việc chở hàng trên nóc thùng xe không đúng quy định, làm ảnh hưởng đến sự ổn định của phương tiện và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông. Hành vi của anh Hùng thuộc trường hợp chở hàng trên nóc thùng xe theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Như vậy, đối chiếu theo quy định, anh Hùng bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại điểm a khoản 13 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Hùng còn bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 28. Chở hàng vượt quá bề rộng thùng xe
Tình huống
Anh Tuấn điều khiển xe tải chở các tấm tôn từ cơ sở sản xuất đến công trình xây dựng. Để giảm số chuyến vận chuyển, anh Tuấn xếp các tấm tôn nhô sang hai bên thành xe, vượt quá bề rộng của thùng xe. Khi lưu thông trên tuyến quốc lộ, lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện hàng hóa vượt quá kích thước của thùng xe, có nguy cơ va chạm với các phương tiện khác nên tiến hành kiểm tra và lập biên bản vi phạm.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Tuấn bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm b khoản 2 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
" 2. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
b) Chở hàng trên nóc thùng xe; chở hàng vượt quá bề rộng thùng xe (kể cả bề rộng rơ moóc và sơ mi rơ moóc); chở hàng vượt phía trước, phía sau thùng xe (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc) trên 10% chiều dài toàn bộ của xe theo thiết kế được ghi trong chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe, trừ hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 8 Điều 21 Nghị định này."
Trong tình huống trên, anh Tuấn đã xếp hàng hóa vượt quá bề rộng của thùng xe nhằm vận chuyển được nhiều hàng hơn. Việc hàng hóa vượt quá bề rộng thùng xe làm tăng kích thước thực tế của phương tiện khi tham gia giao thông, tiềm ẩn nguy cơ va chạm với các phương tiện lưu thông bên cạnh. Hành vi của anh Tuấn thuộc trường hợp chở hàng vượt quá bề rộng thùng xe theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Như vậy, đối chiếu theo quy định, anh Tuấn bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại điểm a khoản 13 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Tuấn còn bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 29. Chở hàng vượt quá chiều dài cho phép của xe
Tình huống
Anh Bình điều khiển xe đầu kéo kéo sơ mi rơ moóc vận chuyển các thanh thép đến công trình xây dựng. Để chở được toàn bộ số thép trong một chuyến, anh Bình xếp các thanh thép nhô ra phía sau sơ mi rơ moóc vượt quá 10% chiều dài toàn bộ của xe theo thiết kế được ghi trong Chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường. Qua kiểm tra thực tế và đối chiếu với thông số kỹ thuật của phương tiện, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định hàng hóa vượt quá giới hạn cho phép và lập biên bản vi phạm.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Bình bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm b khoản 2 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
" 2. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
b) Chở hàng trên nóc thùng xe; chở hàng vượt quá bề rộng thùng xe (kể cả bề rộng rơ moóc và sơ mi rơ moóc); chở hàng vượt phía trước, phía sau thùng xe (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc) trên 10% chiều dài toàn bộ của xe theo thiết kế được ghi trong chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe, trừ hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 8 Điều 21 Nghị định này."
Trong tình huống trên, anh Bình đã điều khiển xe đầu kéo kéo sơ mi rơ moóc chở hàng hóa nhô ra phía sau vượt quá 10% chiều dài toàn bộ của xe theo thiết kế được ghi trong Chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường. Hành vi này làm tăng nguy cơ va chạm với các phương tiện phía sau, ảnh hưởng đến an toàn giao thông và thuộc trường hợp chở hàng vượt phía sau thùng xe (kể cả sơ mi rơ moóc) trên 10% chiều dài toàn bộ của xe theo thiết kế, không thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 8 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Như vậy, đối chiếu theo quy định, anh Bình bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại điểm a khoản 13 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Bình còn bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 30. Điều khiển xe ô tô kinh doanh vận tải không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe
Anh Hùng là lái xe của một doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách, được giao điều khiển xe ô tô 29 chỗ để chở khách theo tuyến cố định. Trong quá trình kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện phương tiện không được lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe theo quy định mặc dù đây là loại xe thuộc đối tượng bắt buộc phải lắp thiết bị này.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Hùng bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm b khoản 3 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"3. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
b) Điều khiển xe ô tô kinh doanh vận tải, xe ô tô đầu kéo, xe vận tải nội bộ không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe hoặc có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng không có tác dụng trong quá trình xe tham gia giao thông theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe lắp trên xe ô tô."
Trong tình huống trên, xe do anh Hùng điều khiển là xe ô tô kinh doanh vận tải thuộc đối tượng phải lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe theo quy định. Tuy nhiên, phương tiện không được lắp thiết bị này khi tham gia giao thông. Hành vi của anh Hùng thuộc trường hợp điều khiển xe ô tô kinh doanh vận tải không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Như vậy, đối chiếu theo quy định, anh Hùng bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.
Tình huống 31. Điều khiển xe có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng thiết bị không hoạt động
Anh Tuấn điều khiển xe đầu kéo vận chuyển hàng hóa từ Hải Phòng đến Hà Nội. Phương tiện đã được lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe, tuy nhiên do thiết bị bị hỏng từ nhiều ngày trước nên trong suốt quá trình xe tham gia giao thông không ghi nhận, lưu trữ được hình ảnh theo quy định. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định thiết bị không hoạt động và lập biên bản vi phạm.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Tuấn bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm b khoản 3 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
""3. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
b) Điều khiển xe ô tô kinh doanh vận tải, xe ô tô đầu kéo, xe vận tải nội bộ không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe hoặc có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng không có tác dụng trong quá trình xe tham gia giao thông theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe lắp trên xe ô tô."
Trong tình huống trên, mặc dù xe đầu kéo đã được lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng thiết bị không hoạt động trong quá trình xe tham gia giao thông, không thực hiện được chức năng ghi nhận hình ảnh theo quy định. Hành vi của anh Tuấn thuộc trường hợp có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng không có tác dụng trong quá trình xe tham gia giao thông theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Như vậy, đối chiếu theo quy định, anh Tuấn bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.
Tình huống 32. Làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe
Anh Minh là lái xe của một doanh nghiệp vận tải hàng hóa, được giao điều khiển xe tải vận chuyển hàng liên tỉnh. Để tránh bị doanh nghiệp phát hiện việc thường xuyên sử dụng điện thoại và không thắt dây an toàn khi lái xe, anh Minh đã tự ý can thiệp vào thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe làm cho dữ liệu hình ảnh được lưu trữ không đúng với thực tế. Qua kiểm tra dữ liệu từ thiết bị trên xe, lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện dấu hiệu bất thường và xác định dữ liệu của thiết bị đã bị làm sai lệch.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Minh bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm b khoản 3 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"3. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
b) Điều khiển xe ô tô kinh doanh vận tải, xe ô tô đầu kéo, xe vận tải nội bộ không lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe hoặc có lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nhưng không có tác dụng trong quá trình xe tham gia giao thông theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe lắp trên xe ô tô."
Trong tình huống trên, xe do anh Minh điều khiển đã được lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe theo quy định. Tuy nhiên, anh Minh đã có hành vi can thiệp làm sai lệch dữ liệu của thiết bị, khiến dữ liệu ghi nhận không phản ánh đúng quá trình điều khiển phương tiện. Hành vi này làm mất giá trị giám sát của thiết bị và thuộc trường hợp làm sai lệch dữ liệu của thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe lắp trên xe ô tô theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Như vậy, đối chiếu theo quy định, anh Minh bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.
Tình huống 33. Điều khiển xe ô tô kinh doanh vận tải không lắp thiết bị giám sát hành trình
Anh Hùng là lái xe của Công ty TNHH Vận tải Thành Công, được giao điều khiển xe ô tô tải vận chuyển hàng hóa từ Thái Nguyên đến Hà Nội. Trong quá trình kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện phương tiện không được lắp thiết bị giám sát hành trình mặc dù đây là loại xe thuộc đối tượng bắt buộc phải lắp theo quy định.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Hùng bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm c khoản 5 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"5. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
c) Điều khiển xe ô tô kinh doanh vận tải, xe ô tô đầu kéo, xe vận tải nội bộ không lắp thiết bị giám sát hành trình hoặc có lắp thiết bị giám sát hành trình nhưng không có tác dụng trong quá trình xe tham gia giao thông theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị giám sát hành trình lắp trên xe ô tô."
Trong tình huống trên, xe do anh Hùng điều khiển là xe ô tô kinh doanh vận tải thuộc đối tượng phải lắp thiết bị giám sát hành trình theo quy định. Tuy nhiên, phương tiện không được lắp thiết bị này khi tham gia giao thông. Hành vi của anh Hùng thuộc trường hợp điều khiển xe ô tô kinh doanh vận tải không lắp thiết bị giám sát hành trình theo quy định tại điểm c khoản 5 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Như vậy, đối chiếu theo quy định, anh Hùng bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại điểm a khoản 13 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Hùng còn bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 34. Điều khiển xe có lắp thiết bị giám sát hành trình nhưng thiết bị không hoạt động
Tình huống
Anh Tuấn điều khiển xe đầu kéo vận chuyển container từ cảng Hải Phòng đến khu công nghiệp Yên Phong. Phương tiện đã được lắp thiết bị giám sát hành trình nhưng do thiết bị bị hỏng từ trước nên trong suốt quá trình xe tham gia giao thông không truyền dữ liệu về hệ thống theo quy định. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông xác định thiết bị giám sát hành trình không hoạt động và lập biên bản vi phạm.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Tuấn bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm c khoản 5 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"5. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
c) Điều khiển xe ô tô kinh doanh vận tải, xe ô tô đầu kéo, xe vận tải nội bộ không lắp thiết bị giám sát hành trình hoặc có lắp thiết bị giám sát hành trình nhưng không có tác dụng trong quá trình xe tham gia giao thông theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị giám sát hành trình lắp trên xe ô tô."
Trong tình huống trên, xe đầu kéo do anh Tuấn điều khiển đã được lắp thiết bị giám sát hành trình. Tuy nhiên, thiết bị không hoạt động trong quá trình xe tham gia giao thông nên không ghi nhận, truyền dữ liệu theo quy định. Hành vi của anh Tuấn thuộc trường hợp có lắp thiết bị giám sát hành trình nhưng không có tác dụng trong quá trình xe tham gia giao thông theo quy định theo quy định tại điểm c khoản 5 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Như vậy, đối chiếu theo quy định, anh Tuấn bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại điểm a khoản 13 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Tuấn còn bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 35. Làm sai lệch dữ liệu của thiết bị giám sát hành trình
Anh Minh là lái xe của Công ty Cổ phần Vận tải Hoàng Long, được giao điều khiển xe ô tô khách chạy tuyến cố định Hà Nội - Lào Cai. Để che giấu việc điều khiển xe vượt quá thời gian làm việc liên tục và chạy sai lộ trình được giao, anh Minh đã tự ý can thiệp vào thiết bị giám sát hành trình làm sai lệch dữ liệu về hành trình của xe. Qua kiểm tra dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình, lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện dữ liệu lưu trữ không trùng khớp với quá trình hoạt động thực tế của phương tiện và xác định dữ liệu của thiết bị đã bị làm sai lệch.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Minh bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm c khoản 5 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"5. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
c) Điều khiển xe ô tô kinh doanh vận tải, xe ô tô đầu kéo, xe vận tải nội bộ không lắp thiết bị giám sát hành trình hoặc có lắp thiết bị giám sát hành trình nhưng không có tác dụng trong quá trình xe tham gia giao thông theo quy định hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị giám sát hành trình lắp trên xe ô tô."
Trong tình huống trên, xe do anh Minh điều khiển đã được lắp thiết bị giám sát hành trình theo quy định. Tuy nhiên, anh Minh đã tự ý can thiệp làm sai lệch dữ liệu của thiết bị, khiến dữ liệu về hành trình của phương tiện không phản ánh đúng quá trình tham gia giao thông thực tế. Hành vi này làm mất giá trị giám sát của thiết bị và thuộc trường hợp làm sai lệch dữ liệu của thiết bị giám sát hành trình lắp trên xe ô tô theo quy định tại điểm c khoản 5 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Như vậy, đối chiếu theo quy định, anh Minh bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại điểm a khoản 13 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Minh còn bị trừ 02 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 36. Chở thiết bị có hình dạng như công-ten-nơ vượt quá chiều dài cho phép của sơ mi rơ moóc
Anh Hùng là lái xe của Công ty TNHH Vận tải Hoàng Phát, được giao điều khiển xe đầu kéo kéo sơ mi rơ moóc để vận chuyển một bồn chứa bằng thép có hình dạng như công-ten-nơ từ Khu công nghiệp Quang Châu (Bắc Giang) đến Cảng Hải Phòng. Do kích thước thiết bị lớn hơn chiều dài của sơ mi rơ moóc, phần thiết bị nhô ra phía sau vượt quá chiều dài toàn bộ của sơ mi rơ moóc được ghi trong Chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của phương tiện. Trong quá trình kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện vi phạm và lập biên bản.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Hùng bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm d khoản 8 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
" 8. Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
d) Chở thiết bị có hình dạng thùng hoặc có hình dạng như công-ten-nơ (không phải công-ten-nơ) vượt quá chiều dài toàn bộ được ghi trong chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của rơ moóc, sơ mi rơ moóc; chở loại hàng không đúng với thông tin ghi trong chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của rơ moóc, sơ mi rơ moóc."
Trong tình huống trên, anh Hùng điều khiển xe đầu kéo kéo sơ mi rơ moóc để vận chuyển một thiết bị có hình dạng như công-ten-nơ nhưng không phải là công-ten-nơ. Thiết bị được xếp trên sơ mi rơ moóc có chiều dài vượt quá chiều dài toàn bộ của sơ mi rơ moóc được ghi trong Chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của phương tiện. Hành vi này không bảo đảm điều kiện an toàn kỹ thuật của phương tiện khi tham gia giao thông, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn đối với các phương tiện lưu thông phía sau và thuộc trường hợp chở thiết bị có hình dạng như công-ten-nơ (không phải công-ten-nơ) vượt quá chiều dài toàn bộ được ghi trong Chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của sơ mi rơ moóc theo quy định tại điểm d khoản 8 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP).
Như vậy, đối chiếu theo quy định, anh Hùng bị phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng. Ngoài ra, theo điểm b khoản 13 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, người điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm nêu trên còn bị trừ 04 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 37: Chở loại hàng không đúng với thông tin ghi trong chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của sơ mi rơ moóc
Công ty TNHH Vận tải Hoàng Long là đơn vị kinh doanh vận tải hàng hóa, sở hữu một xe đầu kéo kéo theo sơ mi rơ moóc chuyên dùng đã được cấp Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường. Theo Giấy chứng nhận kiểm định, sơ mi rơ moóc này được thiết kế, kiểm định để chuyên chở ô tô. Công ty giao anh Nguyễn Văn Thành điều khiển xe đầu kéo kéo theo sơ mi rơ moóc nêu trên vận chuyển một lô thép cuộn từ Khu công nghiệp Yên Bình (tỉnh Thái Nguyên) đến thành phố Hải Phòng. Trong quá trình lưu thông trên tuyến cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, phương tiện bị lực lượng Cảnh sát giao thông dừng để kiểm tra. Qua kiểm tra hồ sơ phương tiện và đối chiếu với Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của sơ mi rơ moóc, lực lượng chức năng xác định sơ mi rơ moóc được kiểm định để chở ô tô nhưng thực tế đang chở thép cuộn. Hành vi vận chuyển loại hàng hóa không đúng với thông tin ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đã được lập biên bản vi phạm hành chính.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Nguyễn Văn Thành bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm d khoản 8 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"8. Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
d) Chở thiết bị có hình dạng thùng hoặc có hình dạng như công-ten-nơ (không phải công-ten-nơ) vượt quá chiều dài toàn bộ được ghi trong chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của rơ moóc, sơ mi rơ moóc; chở loại hàng không đúng với thông tin ghi trong chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của rơ moóc, sơ mi rơ moóc."
Trong tình huống trên, anh Nguyễn Văn Thành điều khiển xe đầu kéo kéo theo sơ mi rơ moóc đã được kiểm định để chở ô tô. Tuy nhiên, trên thực tế, phương tiện lại được sử dụng để vận chuyển thép cuộn, là loại hàng hóa không đúng với thông tin về công dụng của sơ mi rơ moóc được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường.
Việc sử dụng rơ moóc, sơ mi rơ moóc để vận chuyển không đúng loại hàng hóa theo thiết kế, công năng đã được kiểm định có thể ảnh hưởng đến an toàn kỹ thuật của phương tiện, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông đường bộ.
Do đó, anh Nguyễn Văn Thành đã thực hiện hành vi chở loại hàng không đúng với thông tin ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của sơ mi rơ moóc, thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 8 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Như vậy, anh Nguyễn Văn Thành bị phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại điểm c khoản 21 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), người điều khiển phương tiện còn bị trừ 04 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 38. Vận chuyển hàng trên xe có chằng buộc nhưng không bảo đảm an toàn
Anh Hoàng điều khiển xe tải vận chuyển các cuộn ống nhựa từ kho vật liệu đến một công trình xây dựng. Trước khi lưu thông, anh Hoàng chỉ dùng một sợi dây để buộc sơ bộ số ống nhựa trên thùng xe. Khi xe di chuyển qua đoạn đường cua, các cuộn ống bị xô lệch, một phần nhô ra ngoài thành thùng và có nguy cơ rơi xuống đường. Lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện, yêu cầu anh Hoàng dừng xe để kiểm tra và xác định hàng hóa trên xe tuy có chằng buộc nhưng không bảo đảm an toàn. Khối lượng hàng hóa không vượt quá khối lượng cho phép chuyên chở của phương tiện.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Hoàng bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm đ khoản 8 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
8. Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
đ) Vận chuyển hàng trên xe không chằng buộc hoặc có chằng buộc nhưng không bảo đảm an toàn, trừ hành vi vi phạm quy định tại khoản 10 Điều này; vận chuyển hàng rời, vật liệu xây dựng trên xe mà xe không có thành thùng.”
Trong tình huống trên, anh Hoàng đã thực hiện việc chằng buộc các cuộn ống nhựa trước khi vận chuyển. Tuy nhiên, việc chằng buộc chỉ được thực hiện sơ sài, không giữ được hàng hóa ổn định trên thùng xe, khiến các cuộn ống bị xô lệch và có nguy cơ rơi xuống đường trong quá trình phương tiện tham gia giao thông. Khối lượng hàng hóa trên xe không vượt quá khối lượng cho phép chuyên chở nên hành vi này không thuộc trường hợp vi phạm quy định tại khoản 10 Điều 21. Do đó, hành vi của anh Hoàng thuộc trường hợp vận chuyển hàng trên xe có chằng buộc nhưng không bảo đảm an toàn, quy định tại điểm đ khoản 8 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Như vậy, đối chiếu theo quy định, anh Hoàng bị phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng. Ngoài ra, theo điểm b khoản 13 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, người điều khiển phương tiện thực hiện hành vi quy định tại điểm đ khoản 8 Điều này còn bị trừ 04 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 39. Vận chuyển hàng trên xe không chằng buộc bảo đảm an toàn
Anh Nguyễn Văn Hải là lái xe của Công ty TNHH Vận tải Minh Phát, được giao điều khiển xe ô tô tải vận chuyển một lô máy phát điện và thiết bị cơ khí từ thành phố Thái Nguyên đến Khu công nghiệp Quế Võ (tỉnh Bắc Ninh). Sau khi bốc xếp hàng hóa lên xe, anh Hải không thực hiện việc chằng buộc hàng hóa mà chỉ đặt trực tiếp trên thùng xe để tiết kiệm thời gian.
Trong quá trình lưu thông trên Quốc lộ 3, khi vào đoạn đường có nhiều khúc cua, các kiện hàng trên xe bị xê dịch, nghiêng lệch, tiềm ẩn nguy cơ rơi xuống đường gây mất an toàn giao thông. Phát hiện dấu hiệu vi phạm, lực lượng Cảnh sát giao thông đã ra hiệu lệnh dừng phương tiện để kiểm tra. Qua kiểm tra thực tế, lực lượng chức năng xác định toàn bộ số hàng hóa trên xe không được chằng buộc theo quy định, không bảo đảm an toàn trong quá trình vận chuyển và lập biên bản.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Nguyễn Văn Hải bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm đ khoản 8 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
"8. Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
đ) Vận chuyển hàng trên xe không chằng buộc hoặc có chằng buộc nhưng không bảo đảm an toàn, trừ hành vi vi phạm quy định tại khoản 10 Điều này; vận chuyển hàng rời, vật liệu xây dựng trên xe mà xe không có thành thùng."
Trong tình huống trên, anh Nguyễn Văn Hải điều khiển xe ô tô tải vận chuyển hàng hóa nhưng không thực hiện việc chằng buộc hàng hóa trên xe theo quy định. Việc để hàng hóa trên xe mà không được chằng buộc làm tăng nguy cơ hàng hóa bị xê dịch, đổ hoặc rơi khỏi phương tiện trong quá trình lưu thông, ảnh hưởng đến an toàn của người và phương tiện tham gia giao thông.
Hành vi của anh Hải là vận chuyển hàng trên xe không chằng buộc, thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 8 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Như vậy, anh Nguyễn Văn Hải bị phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại điểm c khoản 21 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), anh Hải còn bị trừ 04 điểm giấy phép lái xe.
Tình huống 40. Vận chuyển vật liệu xây dựng trên xe không có thành thùng
Anh Nam điều khiển xe ô tô tải dạng sàn phẳng vận chuyển cát đóng thành đống từ bãi vật liệu đến công trình san lấp. Phương tiện không có thành thùng để chứa và giữ vật liệu, anh Nam chỉ phủ một tấm bạt lên phía trên số cát rồi cho xe tham gia giao thông. Trong quá trình tuần tra, lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện phương tiện vận chuyển vật liệu xây dựng trên xe không có thành thùng nên dừng xe kiểm tra và lập biên bản vi phạm.
Hỏi: Trong tình huống trên, anh Nam bị xử phạt như thế nào?
Trả lời
Điểm đ khoản 8 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP quy định:
“8. Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
đ) Vận chuyển hàng trên xe không chằng buộc hoặc có chằng buộc nhưng không bảo đảm an toàn, trừ hành vi vi phạm quy định tại khoản 10 Điều này; vận chuyển hàng rời, vật liệu xây dựng trên xe mà xe không có thành thùng.
Trong tình huống trên, cát là vật liệu xây dựng và được vận chuyển trên xe ô tô tải dạng sàn phẳng không có thành thùng. Việc anh Nam phủ bạt lên số cát không làm thay đổi đặc điểm phương tiện là không có thành thùng để chứa, giữ vật liệu trong quá trình vận chuyển. Hành vi vi phạm được xác định ở việc sử dụng xe không có thành thùng để vận chuyển vật liệu xây dựng, không phụ thuộc vào việc người điều khiển có phủ bạt lên hàng hóa hay không.
Do đó, hành vi của anh Nam thuộc trường hợp vận chuyển vật liệu xây dựng trên xe mà xe không có thành thùng, quy định tại điểm đ khoản 8 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 8 Nghị định số 238/2026/NĐ-CP.
Như vậy, đối chiếu theo quy định, anh Nam bị phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng. Ngoài ra, theo điểm b khoản 13 Điều 21 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, anh Nam còn bị trừ 04 điểm giấy phép lái xe.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây